cá chình bao nhiêu tiền một kg

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề cá chình bao nhiêu tiền một kg xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 18/09/2021 trên website Cungcaphaisantuoisong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung cá chình bao nhiêu tiền một kg để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bài viết trong chủ đề cá chình bao nhiêu tiền một kg

Tìm thấy #124 tin bài liên quan cá chình bao nhiêu tiền một kg


【#1】Rong nho biển: Giàu giá trị kinh tế

Không chỉ là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, rong nho biển hiện còn được các địa phương áp dụng vào các mô hình nuôi trồng cho giá trị kinh tế cao, mở thêm hướng sản xuất cho người dân.
Rong nho biển: Giàu giá trị kinh tế
Rong nho biển sản phẩm giàu giá trị dinh dưỡng và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nguồn Internet

Đặc điểm Rong nho biển

Rong nho biển (Caulerpa lentillifera J. Agardh. 1837) còn gọi là trứng cá hồi xanh (green caviar) được sử dụng làm thức ăn truyền thống ở các nước Nhật Bản, Philippines… dưới dạng rau xanh hoặc salad.

Trong rong nho biển có chứa protein (7,4%), lipid (1,2%) cùng nhiều vitamin, khoáng, vi lượng cần thiết cho cơ thể. Do có giá trị kinh tế cao (giá bán ở thị trường Nhật Bản khoảng 60 USD/kg rong tươi) và nhu cầu tăng nhanh trong những năm gần đây nên rong nho biển đã được nuôi trồng tại Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.

Rong nho biển là nguồn thực phẩm có giá trị và cung cấp nhiều Vitamin A,C và các nguyên tố vi lượng như sắt, iod, calcium… Chính vì vậy mà rong nho có rất nhiều tác dụng: phòng chống các bệnh (như: bướu cổ, thiếu máu, suy dinh dưỡng, thấp khớp và cao huyết áp…); Giúp nhuận trường, kháng khuẩn đường ruột, hấp thụ các kim loại độc hại trong cơ thể và thải qua ngoài qua đường bài tiết. Đặc biệt, hiện nay người ta sử dụng rong nho như 1 loại mỹ phẩm tự nhiên làm đẹp da, hoặc làm nguyên liệu massage toàn than. Chất Cauleparine có trong rong biển kích thích ăn uống ngon miệng, có tác dụng diệt khuẩn và gây tê nhẹ giúp bảo vệ đường tiêu hóa, làm sạch các lỗ chân long và bề mặt da, chống lão hóa, chống béo phì…

Cùng đó, các món ăn chế biến từ rong nho biển khá dễ ăn và rất bổ dưỡng. Người ta thường làm những món salad từ rong nho với các gia vị khác, rất dễ ăn mà vẫn giữ nguyên được các chất dinh dưỡng trong rong nho biển. Hoặc cũng có thể xay rong nho lấy nước uống; các món canh, xào từ rong nho biển thường rất bắt mắt bởi màu sắc xanh tươi của loại rong này.

Rong nho biển giàu giá trị

Theo Vụ Nuôi trồng Thủy sản, vùng biển của Việt Nam hiện có hơn 800 loài rong biển gồm​ rong đỏ, rong lục, rong nâu, rong lam, với trữ lượng tự nhiên 80 ​- 100 tỷ tấn; thị trường tiêu thụ rộng lớn, rong biển được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực, cho hiệu quả kinh tế cao. Hiện, cả nước nuôi trồng khoảng 10.000 ha rong biển, sản lượng đạt hơn 101.000 tấn tươi/năm; tập trung ở các vùng ven biển gồm Bắc bộ gần 6.600 ha, Bắc Trung bộ hơn 2.000, Nam Trung bộ 1.400 ha, ĐBSCL 100 ha.

Từ năm 2004, rong nho, một loài thuộc rong biển, được nuôi trồng ở vùng ven biển phường Ninh Hải, TP Nha Trang, Khánh Hòa. Đến nay, vùng ven biển của địa phương này đã hình thành được vùng chuyên canh nuôi trồng rong nho để xuất khẩu lớn nhất tỉnh Khánh Hòa, với quy mô hàng chục ha. Là một trong những đơn vị đầu tiên trồng rong nho ở khu vực này, Công ty CP Đại Dương VN hiện đang đưa sản phẩm rong nho biển ra thị trường thế giới như Nhật Bản, châu Âu… với giá khoảng 110.000 đồng/kg rong nho tươi. Sản phẩm rong nho khô xuất khẩu có giá cao gấp hơn 3 lần rong tươi. Đại diện Công ty cho biết, nuôi trồng rong nho cho hiệu quả không thua nuôi tôm trên cùng một đơn vị diện tích. Không những thế, nuôi trồng rong nho còn có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với nuôi các đối tượng thủy sản khác như: Cho thu hoạch quanh năm, sau 18 tháng nuôi mới phải vệ sinh ao nuôi, không bị thiệt hại khi có mưa lũ, giúp cải thiện môi trường nước vùng nuôi…

Hay tại thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, anh Nguyễn Văn Dỗng đã thành công với mô hình trồng rong nhỏ biển trong ao nuôi tôm vì theo chia sẻ của anh Dỗng, rong nho rất ưa nước biển mặn, nhất là các ao, đầm nuôi tôm. Từ 2 sào trồng rong nho thử nghiệm ban đầu, giờ anh đã mở rộng ra  hơn 3ha. Bình quân mỗi ngày anh Dỗng xuất bán 50 – 100 kg rong nho với giá 60.000 đồng/kg.

Vì có nhiều giá trị kinh tế mang lại từ rong nho biển, nên tại nhiều địa phương đã xây dựng thành công mô hình nuôi rong nho biển kết hợp với các đối tượng thủy sản cho hiệu quả cao. Như mô hình nuôi ốc hương kết hợp với hải sâm, vẹm xanh và rong sụn tại vùng biển Khánh Hòa; nuôi kết hợp ốc hương, tu hài và rong câu ở vùng biển Phú Yên. Các mô hình canh tác tôm sú và rong câu cũng được sản xuất trên quy mô lớn ở nhiều tỉnh như Thái Bình 1.000 ha, Thanh Hóa 270 ha, Thừa Thiên – Huế 60 ha, Quảng Nam 90 ha…

Theo các chuyên gia, hầu hết các mô hình nuôi kết hợp đã cải thiện được môi trường vùng nuôi, tốc độ sinh trưởng của vật nuôi cao hơn và hiệu quả kinh tế thường tăng 1,5 – 3 lần so với nuôi đơn. Cùng đó, tạo ra nhiều loại sản phẩm, nguồn cung cấp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trường khác nhau, giảm rủi ro trong sản xuất và phân phối, sử dụng hiệu quả mặt nước. Rong biển được dùng làm nguyên liệu cho rất nhiều ngành công nghiệp, để chế biến ra các sản phẩm có giá trị sử dụng cao…

Theo TS Nguyễn Thế Hân, Khoa Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang, sản phẩm thu nhận từ rong biển được sử dụng nhiều trong thực phẩm và dược phẩm. Nhiều chất có hoạt tính sinh học quý cũng được tìm thấy và khai thác từ rong biển. Tuy nhiên, ngành nuôi trồng và chế biến rong biển ở Việt Nam chưa phát triển như kỳ vọng, do chưa có phương pháp khai thác, sơ chế và bảo quản phù hợp để có được nguồn rong biển nguyên liệu ổn định, có chất lượng tốt phục vụ cho quá trình chế biến.

Vân Anh Tổng Hợp
TCTS


【#2】Nghệ An: Nuôi cá trắm giòn và chép giòn bằng thức ăn đậu tằm

Được sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ, năm 2016, Trạm Khuyến nông TP Vinh đã xây dựng thành công mô hình nuôi cá trắm giòn và cá chép giòn bằng thức ăn đậu tằm trong ao đất tại xã Hưng Lộc.

So với phương pháp nuôi cá truyền thống trước đây, phương pháp này chất lượng thịt cá cải thiện rất nhiều, thịt cá dai, giòn, không có mùi tanh như các loại cá nuôi bằng thức ăn thông thường dẫn tới thay đổi chất lượng thịt của cá, tăng độ dai cơ thịt. Khi cá nuôi bằng thức ăn công nghiệp đạt trọng lượng 1 kg/con trở lên thì tiến hành nuôi bằng thức ăn đậu tằm.

Trạm khuyến nông TP Vinh đã thống nhất chọn hộ ông Nguyễn Văn Khai (xóm Hòa Tiến – xã Hưng Lộc) để thực hiện mô hình với quy mô 1.500 m2; thả 700 cá trắm và 350 cá chép. Trong quá trình triển khai tuy có gặp một vài khó khăn nhưng  hộ dân tham gia mô hình tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật nuôi cá nên tỷ lệ sống cao (95%), cỡ cá trắm đạt 3,1 kg/con, cá chép đạt 2,1 kg/con, năng suất thu hoạch cao.

Sau 5 tháng nuôi, tổng sản lượng thu hoạch là 2.759,75 kg; trong đó, sản lượng cá trắm thu 2061,5 kg, trọng lượng bình quân 3,1 kg/con, cá chép 698,25 kg, trọng lượng bình quân 2,1 kg/con; với giá bán bình quân cho cả vụ nuôi là 100.000 đồng/kg, số tiền thu về 275.975.000 đồng. Lợi nhuận sau khi trừ chi phí mua cá giống, thức ăn, thuốc chế phẩm nuôi cá, công chăm sóc và chi khác lãi ròng 83.545.000 đồng.

Chia sẻ kinh nghiệm nuôi, ông Khai cho biết, trước hết phải cải tạo ao đầm theo đúng quy trình kỹ thuật, chọn con giống đảm bảo có chất lượng tốt để đạt được tỷ lệ sống cao tránh hao hụt, cỡ cá giống thả ban đầu 1 kg/con, mật độ thả phù hợp nhất là 0,7 con/m2, thời vụ nên thả nuôi vào tháng 4 – 5 kéo dài đến tháng 10 – 11. Ngoài ra, thức ăn chính cho cá cá trắm, chép giòn bằng thức ăn đậu tằm là để tạo độ giòn, dai thịt của cá. Trước khi cho cá trắm ăn, cần ngâm hạt đậu tằm với nước và pha ít muối, trong thời gian 12 – 14h; sau đó, vớt đậu tằm ra, rửa qua nước ngọt, bỏ vào bì ủ cho đến khi nứt mầm thì mới cho cá ăn. Trong giai đoạn đầu, cho cá ăn hoàn toàn bằng đậu tằm. Lượng thức ăn hàng ngày của cá được tính theo 3 – 2% tổng trọng lượng cá nuôi trong ao, mỗi ngày cho cá ăn 1 lần. Dùng nhá để điều chỉnh lượng thức ăn, nhá được làm từ khung sắt có đường kính 80 cm, rộng 3 – 4 m2, chiều cao đáy 25 – 30 cm, đặt ở đáy ao. Nhá được vây xung quanh 1 lớp lưới để giữ cho đậu không bị trôi ra ngoài. Trong suốt quá trình dùng nhá, phải định kỳ kiểm tra, vệ sinh tối thiểu 4 lần/tháng để phòng bệnh cho cá.

Vũ Xuân Nam – Trạm Khuyến nĩng TP Vinh, Nghệ An


【#3】Bàn giải pháp phát triển ngành hàng cá tra

Ngày 23/6, tại tỉnh Tiền Giang, Bộ NN&PTNT tổ chức hội nghị triển khai Nghị định 55 và bàn giải pháp phát triển bền vững ngành hàng cá tra.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám phát biểu tại hội nghị.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám phát biểu tại hội nghị  Ảnh: Minh Trí (TTXVN)

Số liệu của Tổng cục Thủy sản, tính đến ngày 20/6, vùng ĐBSCL thả nuôi 3.100 ha, thu hoạch 519.260 tấn cá tra nguyên liệu; tăng 1,3% và 2,2% so cùng kỳ năm 2016. Giá cá tra nguyên liệu loại 0,8 – 1 kg/con, trong 4 tháng đầu năm 25.000 – 27.000 đồng/kg, từ tháng 5 còn 21.500 – 23.000 đồng/kg và người nuôi luôn có lời.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tính đến 15/6 hơn 582 triệu USD, tăng 2,7% so cùng kỳ năm 2016. Trong đó, sụt giảm mạnh ở hai thị trường chính là EU (giảm 24,8%), Mỹ (giảm 19,8%); nhưng tăng mạnh ở thị trường Trung Quốc – Hồng Kông và hiện thị trường này đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu cá tra, chiếm hơn 20% tổng kim ngạch.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) phân tích những rào cản tại ba thị trường hàng đầu của cá tra. Thị trường Trung Quốc – Hồng Kông “giàu tiềm năng nhưng đang là điểm nóng thế giới về an toàn vệ sinh thực phẩm. Do đó, kiểm soát hàng qua đường tiểu ngạch là một vấn đề đang đặt ra”. Thị trường EU “cá tra đang phải cạnh tranh gay gắt với các loài cá thịt trắng bản địa, cá biển khác. Bị truyền thông một số nước bôi xấu, ảnh hưởng tới doanh số tiêu thụ”. Thị trường Mỹ “cá tra xuất khẩu khó khăn vì thuế chống bán phá giá cao và Đạo luật Nông trại Farmbill 2014”.

Hội nghị bàn nhiều về việc triển khai thực hiện tốt Nghị định 55 “Quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra” để nâng cao chất lượng cá tra, vượt qua được những rào cản của các thị trường. Nếu thực hiện tốt Nghị định 55, sẽ có thêm năng lực chủ động ứng phó với Đạo luật Nông trại Mỹ, không làm gián đoạn cá tra xuất khẩu sang thị trường này. Vì kể từ ngày 1/9/2017, Mỹ sẽ thực thi đầy đủ Đạo luật, theo đó, Cục Thanh tra an toàn thực phẩm sẽ kiểm tra lấy mẫu 100% lô hàng sản phẩm cá tra nhập khẩu.

Bộ NN&PTNT đang trình Chính phủ phê duyệt “Dự án nâng cao năng lực”, bao gồm duy trì hoạt động Nhóm công tác chung Việt Nam – Mỹ về Chương trình thanh tra cá da trơn và triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho các khâu trong chuỗi cũng như hệ thống giám sát. Chú trọng xây dựng chương trình giá sát chất lượng nước nuôi và nước vận chuyển cá tra về cơ sở chế biến, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về sản xuất và thương mại cá tra phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc.

Tổng cục Thủy sản đã có “Đề án sản phẩm quốc gia cá da trơn”, tập trung nguồn lực để tạo ra 2 dòng sản phẩm có giá trị đạt 2.000 tỷ đồng/năm. Đó là “Phát triển sản phẩm fillet cá tra chất lượng cao” và “Nghiên cứu chọn giống nâng cao chất lượng giống cá tra”. Những dự án khoa học công nghệ này được giao cho các doanh nghiệp thực hiện. Hy vọng, sẽ đạt được kết quả tốt, không như hai năm qua giao cho Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường thực hiện chưa đạt được kết quả như mong muốn. Việc nghiên cứu sản phẩm fillet chất lượng cao sẽ được doanh nghiệp thực hiện bằng nhiều dự án, từ sản xuất thức ăn đến nuôi cá, thu hoạch, vận chuyển và giết mổ. Kỳ vọng tạo ra được 1.000 tấn fillet khác biệt so với sản phẩm fillet thông thường và bán với giá cao hơn 50% hiện nay.

 

Theo Thủy sản Việt Nam


【#4】Nhân rộng mô hình nuôi sò huyết

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện trên địa bàn huyện Cái Nước, tỉnh tỉnh Cà Mau có hơn 600 ha sò huyết được nuôi xen canh trong vuông tôm quảng canh truyền thống; tập trung ở một số địa phương như: xã Đông Thới, Trần Thới, Đông Hưng, Tân Hưng và một phần thị trấn Cái Nước. Trong đó, xã Đông Thới và Trần Thới là địa phương có diện tích nuôi nhiều nhất.

Sò huyết sau khi thả nuôi từ 8-10 tháng sẽ cho thu hoạch.

Sò huyết sau khi thả nuôi từ 8-10 tháng sẽ cho thu hoạch.

Nuôi sò huyết ” 1 vốn 4 lời”

Theo một số hộ dân ở 2 xã Đông Thới và Trần Thới, trước đây, hầu hết nông dân chủ yếu nuôi tôm sú theo hình thức quảng canh truyền thống, nhưng ở một số tuyến sông rạch trên địa bàn thường xuyên xuất hiện khá nhiều sò huyết tự nhiên, nên có một số hộ dân mò bắt về thả vào vuông tôm để nuôi. Không ngờ sò huyết phát triển nhanh và cho năng suất khá cao, từ đó mô hình nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm quảng canh truyền thống được bà con nông dân nhân rộng.

Ông Lương Xuân Phát, ấp Khánh Tư, xã Đông Thới, cho biết, ấp Khánh Tư có nhiều hộ Khmer sinh sống. Trước đây là ấp có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất so với các ấp trong xã, nhưng khoảng 3 năm trở lại đây, đời sống kinh tế bà con không ngừng khởi sắc, đó là nhờ nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm quảng canh truyền thống.

Mô hình này cho hiệu quả kinh tế khá cao, bà con chỉ cần mua sò huyết giống về thả nuôi trong vuông tôm quảng canh truyền thống, không phải tốn kém tiền thức ăn. Sò huyết giống có trọng lượng 2.000 con/kg có giá bán trên 200.000 đồng, chỉ sau thời gian thả nuôi từ 8-10 tháng là cho thu hoạch theo hình thức tỉa thưa, được từ 7-10 kg sò huyết thương phẩm loại 100 con/kg. Với giá bán trên thị trường dao động trên dưới 100.000 đồng/kg, người nuôi thu lãi không dưới 700.000 đồng sau khi trừ tiền con giống.

Năm 2016, hầu hết bà con nuôi sò huyết đều có lãi khá cao; tuỳ theo mức độ đầu tư con giống thả nuôi mà có không ít hộ thu nhập trên 100 triệu đồng. Phát huy kết quả đạt được, năm 2017, mô hình nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm được nông dân huyện Cái Nước tiếp tục duy trì và nhân rộng. Nhiều địa phương còn thành lập tổ hợp tác nuôi sò huyết, nhằm hỗ trợ nhau về vốn và chia sẻ kinh nghiệm.

Hứa hẹn vụ mùa bội thu

Mô hình nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm được bà con nông dân thả nuôi vào thời điểm đầu năm và kéo dài cho hết tháng 5, đầu tháng 6. Đây được xem là thời điểm khó khăn về nguồn nước phục vụ nuôi tôm cũng như thả nuôi sò huyết, bởi trong khoảng thời gian này triều cường trên các tuyến sông thường hạ thấp, nên việc lấy nước vào vuông tôm gặp không ít khó khăn, dẫn đến vuông tôm thường xuyên bị khô cạn. Nhất là khi gặp thời tiết nắng nóng kéo dài làm cho nhiệt độ nước và độ mặn tăng cao, không thuận lợi cho sò huyết phát triển.

Thời tiết năm nay khá thuận lợi cho sò huyết phát triển, ngay trong những tháng mùa khô mà triều cường dưới các sông rạch vẫn khá cao, bà con nông dân có thể lấy nước trực tiếp vào vuông tôm quảng canh truyền thống một cách dễ dàng, không cần phải dùng máy bơm tát nước như trước đây.

Nhờ vậy, việc nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm của nông dân phát triển khá tốt. Anh Nguyễn Hoàng Pho, Tổ trưởng Tổ hợp tác nuôi sò huyết 14/10, ấp Nhà Thính B, xã Đông Thới, cho biết, năm nay triều cường dưới các tuyến sông rạch ổn định, không bị hạ thấp như trước đây, lượng mưa phân bố khá đều, không xảy ra hạn hán cục bộ, giúp sò huyết phát triển nhanh và tỷ lệ đạt đầu con khá cao sau khi thả nuôi.

Anh Lê Thanh Tùng, Tổ trưởng Tổ hợp tác nuôi sò huyết ấp Mỹ Đông, xã Trần Thới, tâm sự: Thời tiết từ đầu năm đến nay khá ổn định, cộng với lượng phù sa trên các tuyến kinh rạch dồi dào, khi lấy nước cấp vào vuông tôm tạo được nguồn thức ăn tự nhiên giúp sò huyết phát triển, hứa hẹn vụ mùa bội thu.

Theo đánh giá của ngành chuyên môn, mô hình nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm quảng canh truyền thống không ảnh hưởng đến các đối tượng thuỷ sản khác trên cùng diện tích, mà còn giúp bà con nâng cao thu nhập và làm giàu chính đáng. Ngành chuyên môn đang khuyến cáo nông dân nhân rộng mô hình ở những nơi có điều kiện
Theo Báo Cà Mau


【#5】Mùa cá trích ở bãi Khem

Hàng năm, từ tháng 4 kéo dài cho đến hết tháng 8 âm lịch, bà con ngư dân ở bãi Khem thuộc thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc lại tất bật ra khơi đánh bắt cá trích. Đây là loài cá có hình dáng thuôn dài và dẹp, vẩy màu bạc lấp lánh. Con lớn nhất dài khoảng gang tay và to bằng 2- 3 ngón tay.

Ngư dân ở bãi Khem vào mùa đánh bắt cá trích

Ngư dân ở bãi Khem vào mùa đánh bắt cá trích

Cá trích sống thành đàn ven biển, chúng thường kiếm ăn trên mặt nước, nơi có nhiều rạn đá. Bơi đến đâu, chúng đốp bọt đến đó tạo thành những gợn nước li ti giúp cho bà con ngư dân phát hiện một cách dễ dàng. Muốn bắt chúng, ngư dân chỉ cần thả lưới mành bao vây chỉ trong vòng  30 – 60 phút là kéo lên. Gặp thời tiết thuận lợi, trúng mùa vụ, mỗi mẻ lưới có thể kiếm trên 100kg cá.

Chị Dương Thị Thắm, ở thị trấn An Thới huyện Phú Quốc cho biết, nghề lưới cá trích rất vất vả, đòi hỏi phải có kinh nghiệm, giăng như thế nào, giăng lúc nào và giăng ở đâu? Loại cá này trúng nhất là đánh vào sáng sớm. Do đó bà con phải chuẩn bị ra khơi từ 4 giờ sáng. Đa phần người đánh bắt đều sử dụng thuyền thúng ( mỗi thúng 2 người ). Sau khi chuẩn bị xong, họ đưa tất cả thuyền thúng lên tàu ( mỗi tàu 12 thúng ) rồi chạy ra xa bờ khoảng 10 km để thả lưới. Thả xong, một giờ sau kéo lưới và mang thúng trở vào bờ để gỡ cá giao cho bạn hàng…

Vào một buối sáng sớm, khi vừa đặt chân lên bãi Khem, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến bà con ngư dân áo quần ướt sũng đang vội vàng khẩn trương kéo hàng mấy chục chiếc thuyền thúng lên bờ. Mọi người đều nhanh tay làm lưới, gỡ từng con cá tươi rói, lấp lánh ánh bạc cho vào thùng, rất ấn tượng.

Ông Trần Văn Minh, một ngư dân cố cựu ở đây cho biết Bãi Khem hiện có trên 50 hộ ngư dân với trên 94 phương tiện đánh bắt cá trích, nhưng cuộc sống bà con vẫn vất vả vì khong phải mùa nào cũng có cá. Gặp những hôm trời mưa to gió lớn hoặc thời tiết bất lợi, bà con chỉ sống đắp đổi qua ngày.

Đối với bà con ở vùng biển đảo Kiên Giang, cá trích là một loài đặc sản, thịt rất thơm ngon thường dùng để nướng, chiên, nấu canh chua, kho lạt sốt cà, làm chả nhúng giấm… hấp dẫn nhất là món gõi cá trích vắt nước cốt chanh, trộn với dừa nạo, đậu phộng rang, hành tỏi phi, rau sống rồi cuốn bánh tráng chấm với nước mắm chính hiệu Phú Quốc thì tuyệt ngon!

Thành Hiệp- Hoàng Phong
Theo KHPT


【#6】Biển cạn mùa cá nam

Giữa mùa cá nam, biển Đà Nẵng vẫn đón những con tàu nhỏ đánh bắt ven bờ về bến khi bình minh vừa ló dạng. Mùa cá nam nhưng có những ngày không có cá…

Biển cạn mùa cá nam

1. Dân chài miền Trung ai cũng háo hức mùa cá nam. Giữa tháng 3, ngư dân bắt đầu làm lễ cầu ngư và ra biển. Mùa cá nam với cá chuồn, cá ngừ và hàng chục loài cá quen thuộc ven bờ, cá béo, lại nhiều.

Nhớ những năm trước, đó là mùa người buôn vàng đổ về các làng chài vừa cho ngư dân vay nóng mua xăng dầu, ngư cụ, vừa bán vàng cho những gia đình trúng cá hàng triệu đồng mỗi đêm đi biển. Cảnh tượng đó dường như bao năm không thay đổi, háo hức bán buôn, háo hức cân cá lúc thuyền về để những buổi chợ đông vui, nhộn nhịp.

4h sáng chợ cá trên bãi biển Mân Thái và Thọ Quang đã lố nhố phụ nữ đợi thuyền về. Đó là những con tàu công suất nhỏ, bạn chài ăn cơm chiều ở nhà xong mới đủng đỉnh ra lộng, chạy tàu chừng một hai hải lý thì dừng lại, chong đèn câu mực, thả luới.

Nhưng nay thì sáng sáng không còn cảnh ấy nữa. Những người may mắn nhất đã tranh mua được một thùng cá cơm trắng hoặc thúng cá bạc má vội vã kéo lên mặt đường phân loại hoặc nổ máy xe lao đến các chợ nhỏ ven thành phố.

Đi quanh một vòng, nhìn chợ cá thật thảm hại. Tất thảy cá, mực, ghẹ đều nhỏ xíu. Hiếm có tàu nào kiếm được trăm ký cá, đừng nói là vài tạ, một tấn như trước đây. Nhìn con cá hố thúng bé tí, chiều ngang khoảng 2cm, chiều dài 2 gang tay mà ngư dân vẫn phải bắt, thấy lòng không yên. Cả chợ sỉ mà chỉ có vài ba rổ mực con bé bằng ngón tay lấp lánh cặp mắt đen, khoảng chục kg mực con dài hơn gang tay. Nhìn quang cảnh chợ là biết vùng biển ven bờ này đã cạn thủy sản.

Ông Hai ra giúp con bán sỉ cá cho bạn hàng, nghe tôi thắc mắc về cá hố quá nhỏ, nói thủng thẳng: “Hồi trước loại cá này chỉ để nuôi heo, bán rẻ lắm nên chúng tôi không theo. Nhưng bây giờ lớn bé gì cũng phải bắt, nếu không thì tàu trống không! Tàu nhà tôi công suất nhỏ, không ra Hoàng Sa được, phải loanh quanh ven bờ, cá cũng ít dần”.

Cá lớn không có, cá nhỏ bị tận diệt, vét hết, xúc hết là những gì chúng tôi chứng kiến buổi sáng nay ở biển Đà Nẵng. Bà Thoa – một người buôn cá trên 30 năm ở đây càm ràm: “Mấy ổng không bắt được cá ngon, chúng tôi bán mấy thứ cá cơm này chẳng được mấy đồng lời”. Chợ họp nhanh chóng, khoảng hơn một tiếng đồng hồ là hết cá. Ngư dân uể oải thanh toán tiền bạc rồi về nhà, chờ đến giờ ra tàu đi biển khi chiều xuống. Hàng chục du khách đổ đến để mua cá tươi thất vọng về tay không vì cá nhỏ quá, dù tươi, chẳng bõ mang theo máy bay cả ngàn cây số.

Chợ cá Mân Thái chỉ là một trong mươi chợ cá tươi ven biển Đà Nẵng – nơi đón tàu nhỏ đi biển một đêm mang sản phẩm về bán. Cả chợ có đúng một con cá cu dài 2 gang tay, ông chủ thuyền hét giá 300 nghìn đồng một kg. Đó là cái giá dành cho đặc sản hiếm. Thật buồn!

2. Cách nay mươi năm, tôi đến một làng chài chuyên nghề lặn tôm hùm ở bán đảo Sơn Trà. Trai tráng làng này nối nghiệp cha ông làm cái nghề rất nguy hiểm, đòi hỏi sức khỏe để lặn suốt đêm dưới đáy biển. Ngày đó tôm hùm lớn đến vài kg, giá bán khá rẻ, vì con đường mới mở sát biển chỉ có vài quán nhậu bình dân.

Hôm nay tôi đến thăm gia đình cụ Thoại – một lão ngư làm nghề lặn bắt tôm hùm quanh Sơn Trà hơn 30 năm. Cụ Toại đã mất, 2 con trai và con rể cũng bỏ nghề lặn vì tôm hùm không còn sinh sống nổi trong môi trường tự nhiên.

Tôi hỏi, lặn bắt từng con làm sao có thể hết tôm hùm vốn rất nổi tiếng ở vùng đất này, tại sao nay lại hết, -một lão ngư đến chơi nhà cụ Toại giải thích: “Nhìn con đường thì biết. Hàng trăm quán nhậu, nhà hàng nhỏ bu kín, khách du lịch, rồi dân thành phố đổ về đây, người ta không bắt từng con nữa, bắt hàng loạt bằng mọi cách, nên nó mới hết, ngư dân cũng bỏ nghề luôn”.

Hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản ven bờ vốn rất phong phú, đa dạng. Nhưng do không thể kiểm soát chặt chẽ, ngư dân dùng lưới mắt nhỏ nhất, dùng tàu giã cào, dùng xung điện, dùng thuốc nổ TNT, lại đánh bắt bất chấp mùa cá đẻ, khiến nguồn lợi thủy sản ven bờ ở biển miền Trung bị hủy hoại nghiêm trọng.

Giữa những ngày tháng 4, tin tức về những chiếc tàu đánh cá hàng chục tỷ đồng ra khơi chỉ được vài chuyến đã bị rỉ sét, hỏng hóc vì “nước biển quá mặn” nghe như đùa! Ngư dân Việt Nam mình còn rất nghèo, nếu những chương trình hỗ trợ ngư dân đóng tàu công suất lớn không đạt hiệu quả thì nghề đi biển vẫn mãi ảm đạm.

Tại tỉnh Quảng Nam có 4.200 tàu, chỉ 855 tàu công suất từ 90CV trở lên đủ sức ra khơi, số còn lại phải bám ven bờ. Mỗi năm tỉnh phát hiện chừng ba bốn chục vụ vi phạm, xử phạt vài chục triệu đồng cũng không đủ để răn đe những người sử dụng các phương tiện đánh bắt hủy diệt. Đó là chưa nói đến một nguyên nhân rất quan trọng nữa là tình trạng ô nhiễm biển ven bờ từ nước thải các khu công nghiệp, khu đô thị và du lịch làm môi trường sống của thủy sản ngày càng xấu.

Đã nhiều năm, ngư dân đánh bắt ven bờ đảo Lý Sơn cũng không còn sung túc những mùa cá nam như trước. Những đội tàu giã cào các tỉnh khác lấn lướt càn quét, tôm cá nhỏ cỡ nào cũng tận diệt. Nếu như nghe ai đó đánh bắt ven bờ mà được cả tấn cá thì không khác nào trúng số biển cho. Bây giờ, mỗi đêm, một con tàu nhỏ nuôi 2, 3 gia đình mà trúng được 5, 7 chục ký cá là lấy làm mừng vì duy trì được cuộc sống, không thể mơ làm giàu hay tích góp đổi tàu công suất lớn để có thể thoát kiếp luẩn quẩn ven bờ.

Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ven bờ như thế nào là vấn đề nan giải, thậm chí ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng chục ngàn hộ gia đình sống ven biển. Với trình độ dân trí thấp, đời sống bấp bênh của cả triệu ngư dân nghèo, nếu ở Việt Nam mà nói đến chuyện cấm đánh bắt tôm cá trong mùa sinh đẻ như nhiều nước khác trên thế giới thì dường như đang hất đi nồi cơm của ngư dân nghèo lặn ngụp kiếm sống gần bờ.

Tôi nhớ đến chương trình của tổ chức phi chính phủ MRC hơn 10 năm trước hướng cho ngư dân thay đổi nhận thức về biển và nguồn sống từ sự cân bằng của hệ sinh thái biển để thay đổi nghề nghiệp. Trong vòng 6 năm, tổ chức này đã đưa chuyên gia đến hướng dẫn cho người dân làng chài Rạn Trào, tỉnh Khánh Hòa cách chung sống với biển thật bền vững, từ nuôi trồng san hô làm chỗ phát triển các loại thủy sản ven bờ, đến đầu tư nuôi tôm hùm, nghêu, hướng dẫn du khách tham quan, trồng và ngắm san hô, xây dựng các khu homestay giữa làng chài để đón khách du lịch.

Sự thành công của một chương trình còn quá nhỏ như thế chưa đủ là hướng ra cho việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản dưới biển và giải quyết đời sống ngư dân trên diện rộng. Đó cũng bởi không chỉ dân trí của ngư dân thấp, mà nhiều chương trình phát triển các địa phương ven biển vẫn chỉ hướng vào đóng tàu công suất lớn mà chưa đầu tư mạnh vào nuôi trồng hải sản và thay đổi nghề cho ngư dân.

Theo Bích Hồng

Doanh nhân Sài Gòn


【#7】Săn ‘cá ma’ huyền bí vùng hồ Ayun Hạ

Những dòng sông ẩn mình giữa đại ngàn Tây Nguyên chứa đựng biết bao câu chuyện huyền bí. Và câu chuyện ngư phủ săn “cá ma” trên những dòng sông này như một truyền kỳ…

Săn chình “thuỷ quái”

Trong ngôi nhà sàn nhỏ lọt thỏm giữa cây cỏ ở chân đập Ayun Hạ (xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, Gia Lai), một ngư phủ được mệnh danh là “sát thủ” săn cá chình nức tiếng khắp vùng có tên Phạm Quốc Anh (47 tuổi).

Lớn lên ở Thanh Hóa nhưng ông vào mảnh đất này lập nghiệp và nhiều năm mưu sinh bằng nghề bắt cá chình ở hồ Ayun Hạ.

Trong ký ức và kinh nghiệm của ngư phủ này, mỗi con nước lớn, cá chình nhỏ ngược dòng nước bò qua những bãi đá lởm chởm để lên vùng nước thượng nguồn tìm chốn ở.“Vùng này nhiều cá, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là cá chình. Người ta vẫn hay gọi nó là “thủy quái” vì nó to, khỏe, trông giống như rắn, đầu có tai, hàm răng sắc và rất hung dữ, không cẩn thận là nó cắn đứt ngón tay như chơi, nhưng thịt lại rất ngon, bán cũng được giá”, ông chia sẻ.

Cũng con nước ấy, những con trưởng thành lại xuôi theo dòng nước lớn, vượt hành trình hàng trăm km ra đại dương để sinh nở duy trì giống nòi.

Cá chình bố mẹ sau chuyến hành trình này gần như đã kiệt sức và kết thúc vòng đời của mình sau khi những quả trứng nở ra cá chình con.

Cá chình con sẽ sống trong môi trường nước mặn đến khi trưởng thành, đủ sức để đi ngược hành trình của bố mẹ chúng đã đi, từ đại dương vượt thác ghềnh lên các sông, suối, khe rạch vùng cao…

“Cuộc đời cá chình là những chuyến hành trình không ngừng nghỉ, liên tục di chuyển đến khi gặp những nơi có địa hình trắc trở thì chúng sẽ ở lại hoặc đợi nước lớn rồi tiếp tục di chuyển.

Chúng thường sống ở những nơi mặt trời không chiếu tới, những hang sâu và chỉ ra ngoài kiếm ăn khi mặt trời khuất sau những dãy núi.

Bởi vậy, những người săn cá chình thường lần theo các khe rạch, suối lớn, địa hình trắc trở với những phiến đá chồng lên nhau tạo thành những hang, hốc hoặc vũng xoáy dưới chân các dòng thác để tìm chỗ giăng câu”, ông Anh kể.

“Chỗ ấy, chỉ cần đặt những lưỡi câu cố định từ thứ dây dù bện chặt bằng tay rồi móc mồi vào thả xuống đáy nước.

Cái thứ cá này chỉ ăn mồi còn tươi, sống. Và khi móc mồi phải làm sao cho con cá bong vảy để máu tứa ra, thu hút cá chình tìm đến…”, ông Anh miêu tả.

“Ngày trước, mỗi mùa lũ lớn, cá chình ngược dòng lên nhiều, mỗi dây câu có khi được 3 – 4 con cá lớn, nhiều lần bắt được cá chình nặng tới cả chục ký, dài tới sải tay người lớn”, ông Anh say sưa kể.

“Có bận, tôi móc mồi câu xong thì trời xẩm tối, thấm mệt nên tôi leo lên một phiến đá to ngồi hút thuốc cho đỡ lạnh.

Đang tựa lưng vào đá mải mê suy nghĩ thì nghe tiếng quẫy mạnh dưới nước, rọi đèn xuống thấy sợi dây câu rung giật, cùng những đợt cuộn sóng kèm theo nhớt trắng nổi lên.

Biết là con cá chình to mắc câu, nên chờ nó giãy giụa đến khi “đuối” mới bắt. Vài phút trôi qua nhưng nóng ruột lắm, trong đầu nghĩ vẩn vơ: “Lỡ xui nó sẩy thì mất toi con cá to”.

Nghĩ vậy, tôi cởi áo, quần lao xuống dòng nước lạnh, bơi tới gần dùng một tay níu đầu dây, một tay quạt nước. Trời ơi! Một con cá chình vàng khè, vừa to, vừa mạnh.

Mỗi khi tôi níu dây kéo, nó lại quay mình thành hình xoáy nước để cố bứt ra. Với kinh nghiệm lâu năm, tôi phải rà kéo ngang, vừa kéo, vừa tránh những bụi cây, vì khi bắt gặp những cành cây nó sẽ cuốn vào đó để thoát khỏi lưỡi câu…”, ông Anh kể.

“Quần nhau với con cá hơn một giờ đồng hồ, vừa kéo, vừa lựa thế để con cá không cắn vào người. Lôi được con cá khỏi mặt nước thì sức cũng gần kiệt vì ngâm trong làn nước lạnh.

Con cá chình dài hơn 2m, nặng hàng chục ký, toàn thân màu vàng tía, đôi tai to bằng ngón tay cái người lớn, hàm răng sắc nhọn. Lúc đặt xuống sân, vợ con tôi đều hoảng hốt nói là “cá ma”.

Vợ tôi bảo: “Ông bắt cá này về nhỡ có chuyện gì thì sao?”. Tôi xua tay bảo: “Con này bán sẽ mua cả mấy tạ gạo đấy…”, ông Anh cười xuề xòa.

Ngư phủ Quốc Anh bảo, ngày xưa còn lặn tốt được gần chục mét, nhưng nay đã có tuổi, sức khỏe yếu và cũng sắp phải gác câu vì cá hiếm lắm rồi.

cá chình, thủy quái, cá khủng, ngư dân
Người dân chỉ cần bắt cá cho vào giỏ

“Cá ma” trên đại thủy nông

Con đập thủy lợi Ayun Hạ hoàn thành vào thập niên 90 của thế kỷ trước, biến một vùng thung lũng hoang sơ thành đại thủy nông của Tây Nguyên; Với những khu vực dân cư trù phú hình thành…

Và ở đâu đó trên lòng hồ rộng lớn được bảo bọc bởi những cánh rừng, lâu lâu người dân lại bắt được những con cá lớn đến nỗi phải khiếp sợ và tin rằng đó là “cá ma”…

Anh Ksor Mơn, một người làm nghề đánh cá gần 30 năm nay ở xã Ayun, huyện Chư Sê, Gia Lai kể: “Cách đây hơn 20 năm, trong một lần buông lưới buổi tối, khi kéo lưới lên tôi nghe tiếng quẫy mạnh, phải buộc lưới ghì vào thuyền, trong đầu hoảng sợ nghĩ: “Hay có con trăn to mắc vào lưới rồi”.

Trấn tĩnh một hồi, tôi đánh liều kéo lưới lên, để con dao sắc cạnh người thủ thế. Trời ơi, một con cá mè dài như con người, vảy phủ rêu xanh trồi lên mặt nước, nặng gần 40kg.

Cả làng xúm đến xem. Tôi bảo mọi người cùng làm thịt nhưng ai cũng sợ, bảo là “cá ma”.

Một người khác bén duyên cùng “thủy quái” trên lòng hồ mênh mông này là ông Trần Anh Kiệt. Ông bảo rằng, gần 20 năm đánh bắt, nuôi cá ở đây, ông đã bắt được một số con cá mè, cá trắm nặng vài chục ký.

Sở dĩ, có những con cá “khủng” mắc lưới như vậy, dân bản địa sợ cá to không dám ăn vì họ nói đó là “cá ma”. Và cũng chính từ đây, ông Kiệt sáng chế ra chiếc sa bắt cá.

Giữa mênh mông dòng nước hung dữ, ông Kiệt đã cho thợ khoan sâu vào đá, đổ bê tông đặt các trụ sắt lớn.

Giăng ngang dòng sông dài khoảng 50m là hai tấm lưới sắt, được bắt theo hình tam giác. Ở giữa hai tấm lưới sắt đoạn giữa dòng sông, ông Kiệt đặt một chiếc hộp sắt.

Độ cao của cái sa hơn 4m. Cá từ hồ Ayun Hạ theo dòng nước lớn bị cuốn xuống kênh mương thủy lợi gặp phải chiếc sa này giữ lại.

Công đoạn cuối cùng khá đơn giản, chỉ đứng chờ cá mắc vào chiếc lưới khổng lồ này để bắt lên. Từ cái sa bắt cá này, mỗi năm gia đình ông Kiệt thu trên dưới 100 tấn cá.

Có ngày bắt được hơn 1 tấn với đủ loại cá như: Trắm, mè, lóc, trê… nhưng chủ yếu vẫn là cá trắm và cá mè. Hàng năm, gia đình ông Kiệt vẫn thả cá giống lên hồ để tạo sự bền vững trong khai thác.

(Theo Báo Giao thông)


【#8】Nam Định: Xây dựng thương hiệu cá bống bớp Nghĩa Hưng

Là địa phương có nhiều lợi thế trong phát triển thủy sản, những năm qua huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã có nhiều chính sách đầu tư cho lĩnh vực này, nhất là những sản phẩm thủy sản chủ lực, trong đó phải kể đến đó chính là cá bống bớp đã tạo thành thương hiệu nổi tiếng được nhiều vùng miền biết đến.

Nghôa Hûng coá nhiïìu thuêån lúåi nuöi caá böëng búáp   AÃnh: Haãi Àùng

Nghĩa Hưng có nhiều thuận lợi nuôi cá bống bớp Ảnh: Hải Đăng

Giàu tiềm năng

Huyện Nghĩa Hưng nằm giữa 2 con sông lớn là sông Ninh Cơ và sông Đáy, vì vậy rất thuận lợi cho việc phát triển cả nuôi thủy sản nước ngọt và mặn lợ.

UBND huyện đã tích cực tạo điều kiện, khuyến khích người dân tham gia phát triển kinh tế thủy sản, thực hiện chuyển đổi cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ thâm canh của từng vùng, từng địa phương.

Về phát triển nuôi cá bống bớp, theo chia sẻ của các hộ dân, Nghĩa Hưng là vùng đất có nhiều lợi thế về khí hậu và thổ nhưỡng rất thuận lợi cho việc nuôi đối tượng này, chính vì vậy, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã về đây để thu gom sản phẩm.  Được biết, hàng ngày toàn huyện Nghĩa Hưng vẫn xuất bán hàng trăm tấn cá bống bớp cho thị trường miền Trung, Trung Quốc. Đây là loài cá nước mặn, to tròn, béo nục có trọng lượng 2 – 3 g/con, thớ thịt trắng, ngọt và thơm, có giá trị dinh dưỡng cao, lại lành tính, thích hợp với việc bồi bổ cơ thể, phục hồi sinh lực nhưng do giá bán cao hơn các giống cá bống truyền thống nên người dân miền Bắc nói chung và người dân huyện Nghĩa Hưng ít quan tâm sử dụng.

Nhiều cách làm hiệu quả

Một trong những hộ điển hình trong việc mở rộng và phát triển cá bống bớp chính là ông Nguyễn Văn Sơn ở tổ dân phố 6, thị trấn Rạng Đông đã sở hữu trại ương cá giống bống bớp hiện đại nhất nhì tỉnh và có trong tay tài sản hàng tỷ đồng. Thành quả đó chỉ được tạo dựng sau rất nhiều lần thất bại, có lúc ông đã phải bán nhà trả nợ. Ông Sơn chia sẻ, trước đây, trong quá trình nuôi, ông gặp nhiều khó khăn về vấn đề con giống, do phải đi khai thác ngoài tự nhiên, nuôi vỗ thành cá thương phẩm; nhưng lại phụ thuộc vào mùa vụ, kích cỡ không đồng đều khó cho việc chăm sóc. Chính vì vậy mà ông đã quyết định đầu tư sản xuất giống nhân tạo bằng việc liên hệ với các chuyên gia nuôi thủy sản ở Hải Phòng tìm ra công nghệ ương giống cá bống bớp, rồi đầu tư xây dựng trại giống với công nghệ hiện đại. Đến nay, trại cá giống của ông Sơn đã đi vào chuyên môn hóa quy trình sản xuất, số lượng cá ương tăng dần từng năm. Với 104 bể ương (mỗi bể có thể tích 6 m3), ông Sơn nuôi hơn 1 tấn cá bống bớp bố mẹ, mỗi năm sản xuất hơn 9 triệu con giống; chính vì thế, tên gọi “Sơn bớp” xuất hiện từ đó. Điều đặc biệt, mô hình nuôi cá bống bớp của ông Sơn theo chuỗi khép kín, sản xuất theo quy trình VietGAP từ khâu sản xuất cung ứng giống, nuôi thương phẩm, thu mua, sơ chế và tiêu thụ. Hiện nay, tại Nghĩa Hưng đã có rất nhiều hộ dân đầu tư mở rộng diện tích nuôi cá bống bớp cho hiệu quả khá.

Theo các hộ nuôi, thức ăn cho cá bống bớp là nguồn cá tạp, được người nuôi thu gom từ các tàu khai thác gần bờ về rồi xay nhuyễn để cho cá ăn. Lượng thức ăn tùy thuộc vào sự phát triển của cá, cá càng lớn, thì lượng ăn càng nhiều. Tuy nhiên, người nuôi cũng cần thường xuyên kiểm tra nhá để điều tiết lượng cho cá ăn phù hợp, tránh làm dư thừa sẽ ảnh hưởng đến môi trường ao nuôi. Giá cá bống bớp khoảng 2.000 đồng/con; sau gần 1 năm thả nuôi, cá đạt trọng lượng 1 kg/con có thể xuất bán.

Bảo Bình – Theo Thủy sản Việt Nam


【#9】Cơ hội lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Ai Cập

Vinanet – Nếu các doanh nghiệp Việt Nam chủ động và tích cực hơn chắc chắn sẽ giành thị phần lớn bởi cá phi lê basa rất được ưa chuộng tại Ai Cập.

Với quy mô dân số hơn 91 triệu dân, Ai Cập thực sự là thị trường lớn cho các nhà xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thâm nhập quy mô thị trường này vẫn còn hạn chế với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Theo các chuyên gia kinh tế và thương nhân nếu các doanh nghiệp Việt Nam chủ động và tích cực hơn chắc chắn sẽ giành thị phần lớn bởi cá phi lê basa rất được ưa chuộng tại Ai Cập.

Hàng thủy sản như phi lê basa và tôm đông lạnh của Việt Nam đã có mặt tại thị trường Ai Cập hơn 10 năm nay. Mặt hàng này nhanh chóng được người dân rất ưa thích bởi ngon, dễ chế biến và giá phú hợp. Không chỉ có mặt tại các siêu thị lớn như HyrperOne, Carefour, Metro, chỉ một thời gian ngắn hàng thủy sản Việt Nam được bày bán tại các cửa hàng, nhà hàng, khách sạn và thậm chí là ở các chợ dân sinh trên khắp Ai Cập.

co hoi lon cho xuat khau thuy san viet nam vao ai cap hinh 1
Cá phi lê basa rất được ưa chuộng tại Ai Cập

Giám đốc Công ty Thương mai Ai Cập (ECM) Ahmed Youssef cho biết: “Chúng tôi nhập khẩu hàng thủy sản Việt Nam từ hơn 10 năm nay. Chất lượng rất tốt vì thế mà số lượng nhập tăng dần mỗi năm. Thời điểm cao nhất chúng tôi nhập 10 container tương đương với 240 tấn mỗi tháng. Chúng tôi thấy hàng thủy sản của Việt Nam chất lượng tốt, giá phù hợp, dễ chế biến với gu ẩm thực của người dân Ai Cập nên cá phi lê basa trắng và nâu được đón nhận tích cực và hoàn toàn có thể mở rộng thị trường lớn”.

Thế nhưng, nếu so sánh nhu cầu tiêu dùng của người dân Ai Cập với số lượng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này thì dường như “tiềm năng” chưa được đánh thức. Trong hơn 10 năm qua, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Ai Cập vẫn còn thấp. Cụ thể, từ mức hơn 20 triệu USD năm 2007 tăng lên 79,5 triệu USD năm 2012; năm 2013 đạt 57,2 triệu USD; năm 2014 đạt 71,7 triệu USD và năm 2015 đạt 64,2 triệu USD và năm 2016 giảm còn gần 46 triệu USD.

co hoi lon cho xuat khau thuy san viet nam vao ai cap hinh 2

Trong khi đó, với quy mô dân số hơn 91 triệu người, mỗi năm Ai Cập tiêu dùng khoảng 2 triệu tấn thủy sản trong đó nhập khẩu khoảng 500 nghìn tấn từ các thị trường như Hà Lan, Đức, Hoa Kỳ, Na Uy, Marốc, UAE, Thái Lan và Việt Nam. Như vậy hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Ai Cập mới chỉ chiếm một phần nhỏ nhu cầu thị trường. Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho hàng thủy sản của Việt Nam vào thị trường này chưa có bước đột phá.

Ông Ahmed Youssef cho rằng: “Khoảng 6 tháng nay, chúng tôi đã giảm số lượng nhập khẩu còn 3-4 container mỗi tháng. Việc giảm này không chỉ riêng đối với thị trường Việt Nam mà với các thị trường khác như Thái Lan, Trung Quốc, UAE, Indonexia… 6 tháng qua các doanh nghiệp Ai Cập đều giảm nhập khẩu vì nhiều lý do. Thứ nhất là đồng tiền mất giá, giá đôla tăng cao. 1kg basa trước đó nhập khoảng 10 bảng thì bây giờ chúng tôi phải nhập với giá là 20-25 bảng vì thế mà lợi nhuận rất thấp. Thứ hai là các doanh nghiệp thủy sản Ai Cập không được ưu tiên mua đôla so với các mặt hàng thiết yếu khác. Thực ra các lý do nhập khẩu giảm không phải do phía Việt Nam. Hàng Việt Nam chất lượng, sạch, giá ổn định. Vấn đề là ở phía chúng tôi”.

co hoi lon cho xuat khau thuy san viet nam vao ai cap hinh 3

Tham tán thương mại Phạm Thế Cường cho biết: “Hiện tại hàng thủy sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam sang Ai Cập, Hàng thủy sản đặc biệt là cá basa được người tiêu dùng đón nhận và hầu hết tại các siêu thị đều có cá basa và tôm. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, đặc biệt sau khi Ai Cập thả nổi đồng tiền nội tệ. Dẫn tới sụt giảm kim ngạch. Giá cả hàng nhập tăng cao trong khi nhu cầu giảm nghiêm trọng. Bên cạnh đó, lạm phát của Ai Cập cao. Hầu hết người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu do tác động của lạm phát. Qua các lô hàng phát sinh, có vấn đề về chất lượng lô hàng thủy sản chưa thực sự đảm bảo, nhiều lo hàng chưa đạt yêu cầu kiểm dịch của cơ quan kiểm dịch Ai Cập dẫn tới một số bị từ chối nhập khẩu”.

Ai Cập thực sự là thị trường lớn cho hàng thủy sản Việt Nam cũng như cửa ngõ để vào thị trường Châu Phi, Trung Đông, nhất là trong bối cảnh kinh tế đang dần hồi phục, an ninh, chính trị được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, dù chính phủ Ai Cập đang phát triển ngành thủy sản bằng việc thực hiện các dự án nuôi trồng cá nước ngọt tại các hồ và trên sông Nile, cũng như tăng khả năng đánh bắt cá biển. Nhưng ngành thủy sản Ai Cập là thiếu tàu đánh bắt cá xa bờ, thiếu diện tích nuôi cá nước ngọt, cũng như khả năng cung ứng thức ăn cho cá mới chỉ đạt 15%, trong khi 85% phải nhập khẩu. Vấn đề chính hiện này là sự chủ động, tích cực của các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như có các chính sách hỗ trợ để cùng các nhà nhập khẩu Ai Cập vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay sẽ tăng mạnh kim ngạnh xuất khẩu, mở rộng quy mô thị trường đầy tiềm năng này.

co hoi lon cho xuat khau thuy san viet nam vao ai cap hinh 4

Ông Ahmed Youssef nhận định: “Tôi cho rằng, số lượng nhập khẩu thủy sản sẽ tăng lên trong thời gian tới. Bởi vì kinh tế được cải thiện ở Ai Cập. Chúng tôi tin như vậy và có thể tăng số lượng nhập lên tới 10 container hoặc hơn thế. 6 tháng tới kinh tế ổn định, thương mại phục hồi chắc chắn số lượng nhập khẩu thủy sản Việt Nam sẽ tăng lên dù Ai Cập mở rộng diện tích nuôi trồng cũng chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu nội địa. Ai Cập với dân số hơn 90 triệu đó là thị trường rất lớn và rất nhiều nhiều người Ai Cập thích sản phẩm thủy sản của Việt Nam. Do đó tôi khẳng định các chính sách phát triển ngành thủy sản của Ai Cập không ảnh hưởng tới mặt hàng phi lê basa của Việt Nam”.

Theo cơ quan thương vụ Việt Nam tại Ai Cập, trong thời gian tới, để duy trì và thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường này đòi hỏi các doanh nghiệp ngoài việc giữ chữ tín với việc cung cấp hàng đảm bảo chất lượng, đạt yêu cầu kiểm dịch của Ai Cập. Bên cạnh đó, Cơ quan thương vụ Việt Nam tại Ai Cập lưu ý, để tránh mọi tranh chấp và sự lừa đảo không đáng có, doanh nghiệp cần thẩm tra các doanh nghiệp nhập khẩu mới thông qua việc kiểm tra giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận nhập khẩu hoặc nhờ các cơ quan hữu quan kiểm tra nếu có ghi ngờ.

Tham tán thương mại Phạm Thế Cường dự báo: “Nhu cầu với hàng cá basa và tôm của Việt Nam ở thị trường này lớn, có nhiều cơ hội để có thể thúc đẩy. Doanh nghiệp Việt Nam có thực sự quan tâm tới thị trường, chính sách bán hàng, chính sách hỗ trợ hợp lý. Bên cạnh đó để có thể thúc đẩy thêm, hàng thủy sản xuất khẩu vào Ai Cập, doanh nghiệp cần tích cực tham dự các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ tại Ai Cập để có thể đưa thêm hàng thủy sản tới người tiêu dùng Ai Cập”.

Các nhà nhập khẩu Ai Cập cho rằng, với đà như hiện nay, kinh tế dần hồi phục cùng với sự ổn định về an ninh, chính trị, sự khan hiếm ngoại tệ đã giảm bớt, đồng bảng Ai Cập dần ổn định thì trong khoảng nửa năm tới nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng cao. Theo dự báo nhu cầu nhập khẩu thủy sản  sẽ tăng 10-12% mỗi năm trong vòng 5 năm tới do dân số tăng, nhu cầu tiêu dùng hải sản tăng, lượng khách du lịch tăng. Đây thực sự là những tín hiệu tích cực cho các nhà xuất khẩu thủy sản của Việt Nam mở rộng quy mô thị trường và tăng kim ngạch xuất khẩu.

Nguồn: vov.vn


【#10】Diêm dân thoát khổ nhờ nuôi artemia

Khoảng 2 năm trở lại đây, nhu cầu dùng ấu trùng artemia (loài bào xác nhỏ) làm thức ăn tươi cho con tôm giống ngày càng cao. Từ đó, một số diêm dân ở huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tận dụng ao chứa nước của ruộng muối để nuôi ấu trùng artemia thương phẩm, tăng thu nhập đáng kể.

Hằng năm, vụ sản xuất muối chính của diêm dân Ninh Thuận từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. Theo phương thức sản xuất truyền thống, cứ 1 ha ruộng muối, diêm dân phải dành khoảng 3 sào (3.000 m2) để làm ao liên thông, chứa nước biển, sau đó mới dẫn vào ruộng muối.

Diêm dân kiểm tra artermia trước khi xuất bán.

Diêm dân kiểm tra artermia trước khi xuất bán

Trong thời gian chờ nước biển trong ao chứa đạt độ mặn, diêm dân kết hợp thả trứng ấu trùng artemia nuôi. Anh Lê Văn Tư (ngụ thôn Phương Cựu 2, xã Phương Hải, huyện Ninh Hải) – người tiên phong sản xuất muối kết hợp nuôi ấu trùng artemia – cho biết anh có 4,5 sào muối tinh và 1,5 sào chứa nước biển kết hợp thả nuôi ấu trùng artemia. “Kỹ thuật nuôi không khó lắm. Đầu tiên là công đoạn làm sạch ao chứa. Tiếp đó, mua trứng artemia về cho vào thùng sục khí khoảng vài giờ để kích thích nở ra ấu trùng rồi mang thả xuống ao chứa nước biển. Khoảng 25 ngày sau, có thể thu hoạch artemia thương phẩm để bán” – anh Tư nói. Với giá artemia hiện khoảng 90.000 đến 100.000 đồng/kg, mỗi tháng thu nhập của gia đình tăng thêm khoảng 10 triệu đồng từ nuôi ấu trùng này.

Xã Phương Hải hiện có khoảng 150 hộ diêm dân với tổng diện tích sản xuất muối xấp xỉ 90 ha, trong đó hơn 30 ha được tận dụng nuôi artemia. Theo anh Lê Công Hoàn, một diêm dân địa phương, thu nhập từ nuôi ấu trùng artemia cao hơn muối rất nhiều, trong khi vốn đầu tư không cao.

“Một hộp trứng giống artemia khô 0,5 kg khoảng 1,2 triệu đồng, cộng thêm chi phí vệ sinh ao chứa, sục khí để tạo tảo và một số loài phù du khác làm thức ăn tự nhiên cho artemia sau khi trứng nở thành con… từ 4-5 triệu đồng/sào nhưng bán được gần 10 triệu đồng/vụ/tháng, lãi hơn làm muối rất nhiều” – anh Hoan khoe.

Theo lãnh đạo huyện Ninh Hải, nghề làm muối của diêm dân trong vài năm trở lại đây khá chật vật vì thời tiết thất thường, giá muối bấp bênh. Sắp tới, huyện sẽ nhân rộng mô hình này để cải thiện đời sống diêm dân.

Toàn tỉnh Ninh Thuận hiện có hơn 4.000 ha ruộng muối, trong đó của diêm dân khoảng 500 ha. Nếu mô hình nuôi ấu trùng artemia trên diện tích sản xuất muối được mở rộng, sản lượng artemia thương phẩm ở đây có thể lên đến 300-400 tấn/năm.

Bài và ảnh: Lê Trường (báo Người Lao Động)


Bạn đang xem chủ đề cá chình bao nhiêu tiền một kg trên website Cungcaphaisantuoisong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên sẽ hữu ích với bạn. Nếu bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Trang chủ
Danh mục
Tìm kiếm
Liên hệ
Giới thiệu