bề bề bao nhiêu tiền 1 kg

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề bề bề bao nhiêu tiền 1 kg xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 30/07/2021 trên website Cungcaphaisantuoisong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung bề bề bao nhiêu tiền 1 kg để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bài viết trong chủ đề bề bề bao nhiêu tiền 1 kg

Tìm thấy #126 tin bài liên quan bề bề bao nhiêu tiền 1 kg


【#1】Đồng Tháp: Người dân ồ ạt nuôi tôm thẻ trong vùng ngọt

Chiều 5-8, UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết, vừa có công văn chỉ đạo Sở NN-PTNT, các sở ngành liên quan và UBND các huyện tăng cường quản lý việc người dân tự ý nuôi tôm thẻ chân trắng trong vùng ngọt.
tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng dễ lây lan mầm bệnh, nên ngành chức năng không khuyến cáo nuôi trong vùng ngọt.

Theo đó, lâu nay tôm thẻ chân trắng chủ yếu được thả nuôi ở các địa phương ven biển; tuy nhiên khoảng hơn 3 năm nay nhiều nông dân ở Đồng Tháp thấy nuôi tôm thẻ chân trắng có lãi, nên tự ý khoan cây nước tìm nước ngầm và sử dụng thêm muối rải xuống ao nhằm tăng độ mặn… để nuôi tôm thẻ chân trắng trong vùng ngọt.

Một số hộ nuôi đạt năng suất bình quân 6,2 tấn/ha, trừ chi phí còn lời từ 50.000- 80.000 đồng/kg… từ đó kéo nhiều hộ khác làm theo.

Trước tình hình trên, ngành chức năng lo ngại việc người dân tự ý khoan cây nước để khai thác nước ngầm phục vụ nuôi tôm thẻ và xả thải nước mặn ra bên ngoài sẽ dẫn tới ô nhiễm môi trường, nước bị nhiễm mặn sẽ nguy hại cho trồng lúa và nuôi các loại thủy sản nước ngọt khác. Chưa kể, tôm thẻ là đối tượng dễ phát sinh và lây lan mầm bệnh, vì vậy nếu phát triển diện tích lớn sẽ có nguy cơ gia tăng dịch bệnh.

Tổng cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT) lưu ý, theo quy hoạch tổng thể ngành thủy sản đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, thì Đồng Tháp không quy hoạch nuôi tôm thẻ chân trắng… Dù ngành chức năng không khuyến cáo nuôi tôm thẻ trong vùng ngọt, thế nhưng đến nay ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp), người dân vẫn thả nuôi khoảng 150 ha tôm thẻ chân trắng, gây lo lắng cho những hộ nuôi thủy sản nước ngọt và trồng lúa…

Ông Châu Hồng Phúc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết: UBND tỉnh Đồng Tháp vừa chỉ đạo Sở TN-MT chủ trì, phối hợp với Sở NN-PTNT, Công an tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường kiểm tra, kịp thời xử lý những vi phạm trong việc khai thác, sử dụng nước dưới đất, sử dụng nguồn nước giếng khoan để nuôi tôm thẻ chân trắng và yêu cầu người nuôi thực hiện nghiêm bảo vệ môi trường, xả nước thải từ ao nuôi ra môi trường tự nhiên phải qua xử lý. Bên cạnh đó, tiến hành phân tích, đánh giá sản xuất, so sánh lợi nhuận, tác động môi trường, ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp khác trên các vùng nuôi tôm thẻ chân trắng của huyện Tam Nông.

Sở KH-CN tỉnh thực hiện đề tài nghiên cứu về nuôi tôm thẻ chân trắng trong vùng nước ngọt, nhằm đánh giá khả năng thích ứng, những tác động ảnh hưởng ngắn hạn và lâu dài đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái, đa dạng sinh học.

Các đơn vị chức năng phải tăng cường quản lý, không cho mở rộng diện tích nuôi mới tôm thẻ chân trắng, đẩy mạnh tuyên truyền về tác hại của việc sử dụng nước ngầm để nuôi tôm thẻ chân trắng và khuyến cáo không thả nuôi lại.

Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, 06/08/2017


【#2】Từ lớn sang nhỏ – bước tiến mới của ngành tôm

Sau một thời gian dài phát triển, từ những ao nuôi diện tích 4.000 – 5.000m2, các mô hình nuôi tôm nước lợ hiện đang được thu nhỏ lại chỉ còn 1.000 – 1.500m2 mỗi ao nuôi. Tuy thụt lùi về diện tích, nhưng đây là một bước tiến mới của nghề nuôi tôm, khi vừa giúp giảm được rủi ro, vừa gia tăng năng suất, hiệu quả rất lớn trên một đơn vị diện tích.
Từ lớn sang nhỏ - bước tiến mới của ngành tôm
Từ lớn sang nhỏ – bước tiến mới của ngành tôm

Trung tuần tháng 7, khi trò chuyện với tôi, ông Tăng Văn Xúa, ở HTX nuôi tôm Hòa Nghĩa (TX. Vĩnh Châu) khẳng định: Bây giờ nuôi tôm thẻ ao nhỏ theo mô hình của CP Việt Nam chuyển giao hiệu quả hơn rất nhiều so với nuôi ao lớn. Hiện tôi đang có 1 ao nuôi tôm thẻ theo mô hình mới này chỉ 2.000m2, nhưng ước tính năng suất khi thu hoạch ít gì cũng khoảng 7 tấn, tức khoảng 35 tấn/ha.

Ở Vĩnh Châu, ngoài ông Xúa, còn có anh Thanh, anh Chiến nuôi theo mô hình mới này trên diện tích ao nuôi chỉ 1.100m2, nhưng sản lượng thu hoạch đều trên 4 tấn/ao. Ngoài ra, còn phải kể đến trang trại Tân Nam của Công ty Sao Ta, đợt này thu hoạch trên 150 ao và tất cả đều cho năng suất rất cao. Còn anh Dũng ở huyện Long Phú, nuôi 2 ao, mỗi ao chỉ có 1.000m2, ao đầu tiên thu hoạch 4,82 tấn, còn ao thứ hai thu gần 4,5 tấn.

Những con số trên thực sự ấn tượng, nhưng vẫn chưa thấm vào đâu so với những mô hình nuôi tôm ở huyện Phú Tân (Cà Mau) mà chúng tôi có dịp tham quan vào ngày 26-7 vừa qua. Đó là mô hình của anh Lê Việt Khải, ở xã Rạch Chèo, huyện Phú Tân, chỉ với 1 ao diện tích 1.100m2, sau 88 ngày thả nuôi, tôm đã vào cỡ 28 con/kg và sản lượng thu hoạch ước đạt trên 7 tấn. Riêng mô hình của anh Ngô Tấn Cường, ở thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, mỗi ao nuôi 1.400m2, sau 75 ngày tôm vào cỡ 35 con/kg và sản lượng thu hoạch ước không dưới 12 tấn.

Ông Nguyễn Tấn Hòa – Trưởng Phòng Kinh doanh của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, cho biết: “Từ đầu vụ nuôi đến nay, các mô hình CPF – Combine Program do CP Việt Nam thực hiện đều cho tỷ lệ thành công đến 98%. Trong mô hình này, ngoài các chỉ tiêu môi trường ao nuôi trước đây, CP Việt Nam đặc biệt hướng người nuôi quan tâm nhiều hơn đến chỉ số DOC (hàm lượng chất hữu cơ lơ lửng) trong ao nuôi nuôi bằng thiết bị chuyên dùng và chế phẩm vi sinh do CP Việt Nam cung cấp”.

Có thể nói, đây được xem là một bước tiến mới về công nghệ nuôi tôm nước lợ, có thể giúp đạt năng suất tôm nuôi lên đến 100 tấn/ha ao nuôi/vụ mà không cần phải đầu tư lớn theo kiểu nuôi siêu thâm canh trong nhà kính mà một số doanh nghiệp lớn đang thực hiện. Mô hình này, Sóc Trăng hoàn toàn có thể thực hiện được và thực tế đã có một số người nuôi tôm ở Vĩnh Châu, Long Phú thực hiện rất thành công.

Theo ước tính, để đầu tư một mô hình, gồm: 1 ao ương (150m2), 2 ao nuôi (1.000 – 1.500m2/ao), người nuôi cần bỏ ra khoảng chi phí 800 triệu đến 1 tỉ đồng. Con số trên có thể cao với những người nuôi nhỏ lẻ, nhưng vẫn phù hợp với không ít người nuôi quy mô lớn trong tỉnh hiện nay. Cái hay của mô hình là giúp người nuôi kiểm soát tốt các yếu tố đầu vào, môi trường ao nuôi, giúp con tôm khỏe, lớn nhanh và an toàn vệ sinh thực phẩm.

Các nhà khoa học của tỉnh hiện đang thực hiện thí điểm mô hình nuôi tôm không sử dụng kháng sinh với mật độ nuôi từ 60 – 100 con/m2 cũng đang cho kết quả rất khả quan. Do đó, hiện vẫn chưa thể nói mô hình nào là tối ưu nhất, như phân tích của ông Võ Quan Huy – Chủ tịch Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh: “Mỗi mô hình đều có cái hay và phù hợp với từng điều kiện nuôi riêng của nó, nên người nuôi cần cập nhật, bổ sung để hoàn thiện dần theo từng mùa vụ, điều kiện thả nuôi tại vùng đất của mình”.

Năm nay, theo dự báo, khả năng trúng mùa tôm của Sóc Trăng là rất cao, nhưng những cơn mưa lớn do ảnh hưởng bão và áp thấp nhiệt đới mấy ngày qua đã lấy đi phần nào năng suất và lợi nhuận của người nuôi tôm. Điều đó cho thấy, nếu chúng ta có một mô hình nuôi hoàn thiện hơn, những rủi ro do thời tiết, dịch bệnh, môi trường cũng sẽ ít hơn và thành công mang lại cũng sẽ cao hơn.

(Theo Báo Sóc Trăng)


【#3】Rong nho biển: Giàu giá trị kinh tế

Không chỉ là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, rong nho biển hiện còn được các địa phương áp dụng vào các mô hình nuôi trồng cho giá trị kinh tế cao, mở thêm hướng sản xuất cho người dân.
Rong nho biển: Giàu giá trị kinh tế
Rong nho biển sản phẩm giàu giá trị dinh dưỡng và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nguồn Internet

Đặc điểm Rong nho biển

Rong nho biển (Caulerpa lentillifera J. Agardh. 1837) còn gọi là trứng cá hồi xanh (green caviar) được sử dụng làm thức ăn truyền thống ở các nước Nhật Bản, Philippines… dưới dạng rau xanh hoặc salad.

Trong rong nho biển có chứa protein (7,4%), lipid (1,2%) cùng nhiều vitamin, khoáng, vi lượng cần thiết cho cơ thể. Do có giá trị kinh tế cao (giá bán ở thị trường Nhật Bản khoảng 60 USD/kg rong tươi) và nhu cầu tăng nhanh trong những năm gần đây nên rong nho biển đã được nuôi trồng tại Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.

Rong nho biển là nguồn thực phẩm có giá trị và cung cấp nhiều Vitamin A,C và các nguyên tố vi lượng như sắt, iod, calcium… Chính vì vậy mà rong nho có rất nhiều tác dụng: phòng chống các bệnh (như: bướu cổ, thiếu máu, suy dinh dưỡng, thấp khớp và cao huyết áp…); Giúp nhuận trường, kháng khuẩn đường ruột, hấp thụ các kim loại độc hại trong cơ thể và thải qua ngoài qua đường bài tiết. Đặc biệt, hiện nay người ta sử dụng rong nho như 1 loại mỹ phẩm tự nhiên làm đẹp da, hoặc làm nguyên liệu massage toàn than. Chất Cauleparine có trong rong biển kích thích ăn uống ngon miệng, có tác dụng diệt khuẩn và gây tê nhẹ giúp bảo vệ đường tiêu hóa, làm sạch các lỗ chân long và bề mặt da, chống lão hóa, chống béo phì…

Cùng đó, các món ăn chế biến từ rong nho biển khá dễ ăn và rất bổ dưỡng. Người ta thường làm những món salad từ rong nho với các gia vị khác, rất dễ ăn mà vẫn giữ nguyên được các chất dinh dưỡng trong rong nho biển. Hoặc cũng có thể xay rong nho lấy nước uống; các món canh, xào từ rong nho biển thường rất bắt mắt bởi màu sắc xanh tươi của loại rong này.

Rong nho biển giàu giá trị

Theo Vụ Nuôi trồng Thủy sản, vùng biển của Việt Nam hiện có hơn 800 loài rong biển gồm​ rong đỏ, rong lục, rong nâu, rong lam, với trữ lượng tự nhiên 80 ​- 100 tỷ tấn; thị trường tiêu thụ rộng lớn, rong biển được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực, cho hiệu quả kinh tế cao. Hiện, cả nước nuôi trồng khoảng 10.000 ha rong biển, sản lượng đạt hơn 101.000 tấn tươi/năm; tập trung ở các vùng ven biển gồm Bắc bộ gần 6.600 ha, Bắc Trung bộ hơn 2.000, Nam Trung bộ 1.400 ha, ĐBSCL 100 ha.

Từ năm 2004, rong nho, một loài thuộc rong biển, được nuôi trồng ở vùng ven biển phường Ninh Hải, TP Nha Trang, Khánh Hòa. Đến nay, vùng ven biển của địa phương này đã hình thành được vùng chuyên canh nuôi trồng rong nho để xuất khẩu lớn nhất tỉnh Khánh Hòa, với quy mô hàng chục ha. Là một trong những đơn vị đầu tiên trồng rong nho ở khu vực này, Công ty CP Đại Dương VN hiện đang đưa sản phẩm rong nho biển ra thị trường thế giới như Nhật Bản, châu Âu… với giá khoảng 110.000 đồng/kg rong nho tươi. Sản phẩm rong nho khô xuất khẩu có giá cao gấp hơn 3 lần rong tươi. Đại diện Công ty cho biết, nuôi trồng rong nho cho hiệu quả không thua nuôi tôm trên cùng một đơn vị diện tích. Không những thế, nuôi trồng rong nho còn có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với nuôi các đối tượng thủy sản khác như: Cho thu hoạch quanh năm, sau 18 tháng nuôi mới phải vệ sinh ao nuôi, không bị thiệt hại khi có mưa lũ, giúp cải thiện môi trường nước vùng nuôi…

Hay tại thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, anh Nguyễn Văn Dỗng đã thành công với mô hình trồng rong nhỏ biển trong ao nuôi tôm vì theo chia sẻ của anh Dỗng, rong nho rất ưa nước biển mặn, nhất là các ao, đầm nuôi tôm. Từ 2 sào trồng rong nho thử nghiệm ban đầu, giờ anh đã mở rộng ra  hơn 3ha. Bình quân mỗi ngày anh Dỗng xuất bán 50 – 100 kg rong nho với giá 60.000 đồng/kg.

Vì có nhiều giá trị kinh tế mang lại từ rong nho biển, nên tại nhiều địa phương đã xây dựng thành công mô hình nuôi rong nho biển kết hợp với các đối tượng thủy sản cho hiệu quả cao. Như mô hình nuôi ốc hương kết hợp với hải sâm, vẹm xanh và rong sụn tại vùng biển Khánh Hòa; nuôi kết hợp ốc hương, tu hài và rong câu ở vùng biển Phú Yên. Các mô hình canh tác tôm sú và rong câu cũng được sản xuất trên quy mô lớn ở nhiều tỉnh như Thái Bình 1.000 ha, Thanh Hóa 270 ha, Thừa Thiên – Huế 60 ha, Quảng Nam 90 ha…

Theo các chuyên gia, hầu hết các mô hình nuôi kết hợp đã cải thiện được môi trường vùng nuôi, tốc độ sinh trưởng của vật nuôi cao hơn và hiệu quả kinh tế thường tăng 1,5 – 3 lần so với nuôi đơn. Cùng đó, tạo ra nhiều loại sản phẩm, nguồn cung cấp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trường khác nhau, giảm rủi ro trong sản xuất và phân phối, sử dụng hiệu quả mặt nước. Rong biển được dùng làm nguyên liệu cho rất nhiều ngành công nghiệp, để chế biến ra các sản phẩm có giá trị sử dụng cao…

Theo TS Nguyễn Thế Hân, Khoa Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang, sản phẩm thu nhận từ rong biển được sử dụng nhiều trong thực phẩm và dược phẩm. Nhiều chất có hoạt tính sinh học quý cũng được tìm thấy và khai thác từ rong biển. Tuy nhiên, ngành nuôi trồng và chế biến rong biển ở Việt Nam chưa phát triển như kỳ vọng, do chưa có phương pháp khai thác, sơ chế và bảo quản phù hợp để có được nguồn rong biển nguyên liệu ổn định, có chất lượng tốt phục vụ cho quá trình chế biến.

Vân Anh Tổng Hợp
TCTS


【#4】Nuôi bào ngư ở xã đảo

Lần đầu tiên, bào ngư vành tai được nuôi thương phẩm tại xã đảo Tân Hiệp (TP.Hội An). Những chuẩn bị kỹ càng cộng với triển vọng của loại hình này kỳ vọng sẽ mở ra hướng đi mới cho nghề nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh.

Lần đầu tiên con bào ngư vành tai được nuôi ở Quảng Nam. Ảnh: N.Q.V

Lần đầu tiên con bào ngư vành tai được nuôi ở Quảng Nam. Ảnh: N.Q.V

Nuôi trong lồng bè

Khu vực nuôi bào ngư tại Cù Lao Chàm (xã đảo Tân Hiệp) là vùng biển kín gió, sóng nhẹ, độ sâu chừng 5 – 6m. Theo các hộ nuôi bào ngư, độ mặn đo được tại đây là 30 – 35‰, dòng chảy lưu thông với tốc độ 3 – 5m/giây. Người dân bố trí nuôi bào ngư trong lồng hình chữ nhật có kích thước 50 – 40 – 30cm, được bọc lưới xung quanh, mắt lưới 3 – 4mm để tránh thất thoát bào ngư giống ra ngoài. Ông Nguyễn Rân ở thôn Bãi Làng cho biết, quá quen thuộc với bào ngư trong tự nhiên nhưng vì lần đầu tiên thả nuôi nên phải kỹ càng. Lồng nuôi bào ngư được treo trên bè nổi, cách nhau 0,5cm, ở độ sâu 2 – 5m. Bè nuôi được thiết kế di động để có thể di chuyển đến nhiều nơi khi có mưa bão hoặc sóng lớn; bào ngư giống có kích cỡ 5mm với mật độ 100 con/lồng nuôi. Khi bào ngư đạt kích cỡ 20mm sẽ chuyển chúng sang lồng nuôi khác có kích cỡ lưới thưa hơn, bố trí 30 – 50 con/lồng. “Tôi làm nghề lặn mấy chục năm nay, chuyên bắt bào ngư và nhiều loại hải sản khác rất có giá trị. Do lặn sâu đến 50m, áp lực quá lớn của nước tác động khiến sức tôi chịu không thấu, tai biến. Nay chuyển qua nuôi bào ngư, tôi đặt niềm tin vào mô hình, kỳ vọng sẽ là sinh kế mới, ổn định cho gia đình” – ông Rân chia sẻ.

Một ngư dân khác cũng chuyển sang nuôi bào ngư vành tai từ nghề thợ lặn lâu năm là ông Trần Láng ở thôn Bãi Ông. Ông Láng cho biết, trước khi thả nuôi bào ngư, các hộ nuôi đã được ngành chức năng tập huấn kỹ càng. Trên lồng nuôi bào ngư kín, ông Láng đã thiết kế nắp, buộc chắc bằng dây, có thể linh hoạt đóng mở khi cần. Ông Láng cho bào ngư ăn rong biển mỗi ngày 3 lần và thường xuyên vệ sinh lồng nuôi, vớt thức ăn thừa ra bên ngoài. Trong lồng nuôi bào ngư, hộ nuôi đã thiết kế các ống nhựa PPC được xẻ đôi, có màu tối, đường kính 200mm, giúp bào ngư tiện bám, thuận lợi cho sinh trưởng. “Gia đình tôi không có điều kiện làm du lịch, dịch vụ như nhiều hộ khác. Nghề lặn biển thì rất nguy hiểm, có thể bị đánh đổi tính mạng bất cứ lúc nào nên từ khi được hướng dẫn, chuyển giao giống, kỹ thuật nuôi bào ngư, chúng tôi nhận thấy rất phù hợp. Nếu thành công, mô hình sẽ tạo sinh kế ổn định, bởi bào ngư thương phẩm được bán ở đây với giá 500 nghìn đồng/kg” – ông Láng nói.

Triển vọng

Nuôi bào ngư vành tai lần đầu tiên tại xã đảo Tân Hiệp được triển khai từ chương trình thí điểm nuôi bào ngư thương phẩm do Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III (Bộ NN&PTNT) phối hợp với Sở NN&PTNT, TP.Hội An tổ chức. Sau nhiều khảo sát, vùng biển Cù Lao Chàm được chọn vì nơi đây là địa bàn có nhiều bào ngư tự nhiên hiện hữu trước đây cũng như các ưu điểm về nguồn nước, dòng chảy, điều kiện sóng, gió. Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đã hỗ trợ 5 hộ dân tham gia mô hình 30 nghìn con giống bào ngư, 50% chi phí thức ăn, tập huấn chuyển giao kỹ thuật cùng các vật liệu phụ trợ. “Sau quá trình nghiên cứu lâu năm từ tạo con giống nhân tạo cho đến thử nghiệm nuôi trên biển, chúng tôi quyết định triển khai mô hình, mục đích tạo sinh kế mới cho người dân. Nếu thành công, chúng tôi sẽ nhân rộng ra các tỉnh duyên hải miền Trung, vùng biển Trường Sa. Bào ngư có giá trị kinh tế rất cao nhưng đã cạn kiệt trong tự nhiên nên cần nuôi, tạo hướng phát triển thủy sản bền vững” – ThS. Nguyễn Văn Giang, cán bộ phụ trách mô hình của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III nói.

Theo ngành chức năng, mặc dù là mô hình kinh tế mới mẻ nhưng nuôi bào ngư có nhiều triển vọng. Kỹ thuật nuôi loài thủy sản này không quá phức tạp, tỷ lệ sống khi nuôi thương phẩm đạt cao. Ở vùng biển ít có biến động như Cù Lao Chàm, bào ngư có thể được nuôi ở mật độ rất cao mà không sợ nhiễm bệnh. Thức ăn cho loài này rất phong phú với nhiều loại rong trong tự nhiên. Khi nhân rộng, bào ngư có thể được nuôi bằng nhiều cách như nuôi trong lồng bè, nuôi trong bể xi măng, nuôi thả đáy dọc theo bờ biển. “Qua nhiều nghiên cứu, thử nghiệm thành công kết hợp với các phân tích về môi trường nước, điều kiện sóng, gió ở xã đảo Tân Hiệp thì mô hình rất hứa hẹn. Chúng tôi kỳ vọng về hướng phát triển kinh tế mới cho người dân vùng biển Quảng Nam nếu mô hình thành công, được nhân rộng trong thời gian tới” – ông Hứa Viết Thịnh, cán bộ của Trung tâm Khuyến nông Quảng Nam tham gia mô hình cho biết. Ông Thịnh khuyến cáo các hộ dân thường xuyên theo dõi các yếu tố độ mặn, nhiệt độ, màu nước biển, nếu thấy bất thường thì áp dụng các biện pháp ổn định môi trường nước như đã tập huấn. Vào mùa mưa lũ, nếu nước đục, sóng lớn thì người nuôi nhanh chóng đưa lồng bè nuôi bào ngư đến nơi đảm bảo. Người nuôi nên thường xuyên vệ sinh lưới, vật bám vào lồng bè, diệt trừ địch hại xung quanh lồng bè nuôi bào ngư. Được biết, quá trình nuôi một năm thì bào ngư được thu hoạch, bán thương phẩm.

Theo Báo Quảng Nam


【#5】Thành công trong sản xuất giống cá chép lai

Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I (Trung tâm Giống nông nghiệp Lào Cai) đã nghiên cứu, cải tạo chất lượng, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống cá chép lai, đáp ứng nhu cầu người nuôi trong và ngoài tỉnh theo hướng hàng hóa.

Kiểm tra sự thành thục của cá cái   Ảnh: T.T

Kiểm tra sự thành thục của cá cái Ảnh: T.T

Trên cơ sở nghiên cứu khoa học bằng phương pháp lai xa, Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I đã mạnh dạn cho lai cá chép đực (thân hình dài, tốc độ sinh trưởng nhanh, bụng bé) thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với cá cái chép Việt Nam (màu sắc vàng đẹp, sức đề kháng cao, thịt thơm ngon). Sau đó, dùng phương pháp chọn lọc hàng loạt qua nhiều thế hệ, dựa vào kiểu hình để chọn lọc đàn cá hậu bị có chất lượng tốt nhất (dựa trên tốc độ tăng trưởng, thân hình dài, màu sắc…). Từ đó, tiếp tục chọn những cá thể tốt nhất trong đàn cá hậu bị để trở thành đàn cá bố mẹ, rồi tiến hành nuôi vỗ theo quy trình để tạo ra thế hệ F1.

Con lai sinh sản ra được nuôi hậu kiểm tại Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I cho thấy, cá có đầy đủ ưu điểm của cá bố, mẹ. Sau 6 tháng nuôi, đạt trọng lượng trung bình 1,5 kg/con, thân dài, màu sắc đẹp, ngoại hình giống cá chép sông, tốc độ sinh trưởng nhanh. Ông Nguyễn Duy Triệu, Trưởng Trại cho biết, vượt qua nhiều khó khăn, đến nay, các cán bộ, kỹ sư trại đã làm chủ công nghệ sản xuất giống cá chép lai. Đàn cá bố, mẹ hiện đã đạt chuẩn, trọng lượng 4 – 6 kg/con, khỏe mạnh, đảm bảo cho việc sản xuất đàn cá F1 chất lượng cao. Sắp tới, có thể trại sẽ đề xuất công nhận đây là giống cá chép mang thương hiệu Lào Cai.

Thời gian tới, Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I sẽ tiếp tục duy trì giống cá chép lai chất lượng cao, đồng thời sản xuất thêm nhiều giống cá khác, đáp ứng nhu cầu nuôi thủy sản ngày càng cao của người dân.

Theo thủy sản Việt Nam


【#6】Nghệ An: Nuôi cá trắm giòn và chép giòn bằng thức ăn đậu tằm

Được sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ, năm 2016, Trạm Khuyến nông TP Vinh đã xây dựng thành công mô hình nuôi cá trắm giòn và cá chép giòn bằng thức ăn đậu tằm trong ao đất tại xã Hưng Lộc.

So với phương pháp nuôi cá truyền thống trước đây, phương pháp này chất lượng thịt cá cải thiện rất nhiều, thịt cá dai, giòn, không có mùi tanh như các loại cá nuôi bằng thức ăn thông thường dẫn tới thay đổi chất lượng thịt của cá, tăng độ dai cơ thịt. Khi cá nuôi bằng thức ăn công nghiệp đạt trọng lượng 1 kg/con trở lên thì tiến hành nuôi bằng thức ăn đậu tằm.

Trạm khuyến nông TP Vinh đã thống nhất chọn hộ ông Nguyễn Văn Khai (xóm Hòa Tiến – xã Hưng Lộc) để thực hiện mô hình với quy mô 1.500 m2; thả 700 cá trắm và 350 cá chép. Trong quá trình triển khai tuy có gặp một vài khó khăn nhưng  hộ dân tham gia mô hình tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật nuôi cá nên tỷ lệ sống cao (95%), cỡ cá trắm đạt 3,1 kg/con, cá chép đạt 2,1 kg/con, năng suất thu hoạch cao.

Sau 5 tháng nuôi, tổng sản lượng thu hoạch là 2.759,75 kg; trong đó, sản lượng cá trắm thu 2061,5 kg, trọng lượng bình quân 3,1 kg/con, cá chép 698,25 kg, trọng lượng bình quân 2,1 kg/con; với giá bán bình quân cho cả vụ nuôi là 100.000 đồng/kg, số tiền thu về 275.975.000 đồng. Lợi nhuận sau khi trừ chi phí mua cá giống, thức ăn, thuốc chế phẩm nuôi cá, công chăm sóc và chi khác lãi ròng 83.545.000 đồng.

Chia sẻ kinh nghiệm nuôi, ông Khai cho biết, trước hết phải cải tạo ao đầm theo đúng quy trình kỹ thuật, chọn con giống đảm bảo có chất lượng tốt để đạt được tỷ lệ sống cao tránh hao hụt, cỡ cá giống thả ban đầu 1 kg/con, mật độ thả phù hợp nhất là 0,7 con/m2, thời vụ nên thả nuôi vào tháng 4 – 5 kéo dài đến tháng 10 – 11. Ngoài ra, thức ăn chính cho cá cá trắm, chép giòn bằng thức ăn đậu tằm là để tạo độ giòn, dai thịt của cá. Trước khi cho cá trắm ăn, cần ngâm hạt đậu tằm với nước và pha ít muối, trong thời gian 12 – 14h; sau đó, vớt đậu tằm ra, rửa qua nước ngọt, bỏ vào bì ủ cho đến khi nứt mầm thì mới cho cá ăn. Trong giai đoạn đầu, cho cá ăn hoàn toàn bằng đậu tằm. Lượng thức ăn hàng ngày của cá được tính theo 3 – 2% tổng trọng lượng cá nuôi trong ao, mỗi ngày cho cá ăn 1 lần. Dùng nhá để điều chỉnh lượng thức ăn, nhá được làm từ khung sắt có đường kính 80 cm, rộng 3 – 4 m2, chiều cao đáy 25 – 30 cm, đặt ở đáy ao. Nhá được vây xung quanh 1 lớp lưới để giữ cho đậu không bị trôi ra ngoài. Trong suốt quá trình dùng nhá, phải định kỳ kiểm tra, vệ sinh tối thiểu 4 lần/tháng để phòng bệnh cho cá.

Vũ Xuân Nam – Trạm Khuyến nĩng TP Vinh, Nghệ An


【#7】Bàn giải pháp phát triển ngành hàng cá tra

Ngày 23/6, tại tỉnh Tiền Giang, Bộ NN&PTNT tổ chức hội nghị triển khai Nghị định 55 và bàn giải pháp phát triển bền vững ngành hàng cá tra.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám phát biểu tại hội nghị.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám phát biểu tại hội nghị  Ảnh: Minh Trí (TTXVN)

Số liệu của Tổng cục Thủy sản, tính đến ngày 20/6, vùng ĐBSCL thả nuôi 3.100 ha, thu hoạch 519.260 tấn cá tra nguyên liệu; tăng 1,3% và 2,2% so cùng kỳ năm 2016. Giá cá tra nguyên liệu loại 0,8 – 1 kg/con, trong 4 tháng đầu năm 25.000 – 27.000 đồng/kg, từ tháng 5 còn 21.500 – 23.000 đồng/kg và người nuôi luôn có lời.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tính đến 15/6 hơn 582 triệu USD, tăng 2,7% so cùng kỳ năm 2016. Trong đó, sụt giảm mạnh ở hai thị trường chính là EU (giảm 24,8%), Mỹ (giảm 19,8%); nhưng tăng mạnh ở thị trường Trung Quốc – Hồng Kông và hiện thị trường này đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu cá tra, chiếm hơn 20% tổng kim ngạch.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) phân tích những rào cản tại ba thị trường hàng đầu của cá tra. Thị trường Trung Quốc – Hồng Kông “giàu tiềm năng nhưng đang là điểm nóng thế giới về an toàn vệ sinh thực phẩm. Do đó, kiểm soát hàng qua đường tiểu ngạch là một vấn đề đang đặt ra”. Thị trường EU “cá tra đang phải cạnh tranh gay gắt với các loài cá thịt trắng bản địa, cá biển khác. Bị truyền thông một số nước bôi xấu, ảnh hưởng tới doanh số tiêu thụ”. Thị trường Mỹ “cá tra xuất khẩu khó khăn vì thuế chống bán phá giá cao và Đạo luật Nông trại Farmbill 2014”.

Hội nghị bàn nhiều về việc triển khai thực hiện tốt Nghị định 55 “Quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra” để nâng cao chất lượng cá tra, vượt qua được những rào cản của các thị trường. Nếu thực hiện tốt Nghị định 55, sẽ có thêm năng lực chủ động ứng phó với Đạo luật Nông trại Mỹ, không làm gián đoạn cá tra xuất khẩu sang thị trường này. Vì kể từ ngày 1/9/2017, Mỹ sẽ thực thi đầy đủ Đạo luật, theo đó, Cục Thanh tra an toàn thực phẩm sẽ kiểm tra lấy mẫu 100% lô hàng sản phẩm cá tra nhập khẩu.

Bộ NN&PTNT đang trình Chính phủ phê duyệt “Dự án nâng cao năng lực”, bao gồm duy trì hoạt động Nhóm công tác chung Việt Nam – Mỹ về Chương trình thanh tra cá da trơn và triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho các khâu trong chuỗi cũng như hệ thống giám sát. Chú trọng xây dựng chương trình giá sát chất lượng nước nuôi và nước vận chuyển cá tra về cơ sở chế biến, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về sản xuất và thương mại cá tra phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc.

Tổng cục Thủy sản đã có “Đề án sản phẩm quốc gia cá da trơn”, tập trung nguồn lực để tạo ra 2 dòng sản phẩm có giá trị đạt 2.000 tỷ đồng/năm. Đó là “Phát triển sản phẩm fillet cá tra chất lượng cao” và “Nghiên cứu chọn giống nâng cao chất lượng giống cá tra”. Những dự án khoa học công nghệ này được giao cho các doanh nghiệp thực hiện. Hy vọng, sẽ đạt được kết quả tốt, không như hai năm qua giao cho Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường thực hiện chưa đạt được kết quả như mong muốn. Việc nghiên cứu sản phẩm fillet chất lượng cao sẽ được doanh nghiệp thực hiện bằng nhiều dự án, từ sản xuất thức ăn đến nuôi cá, thu hoạch, vận chuyển và giết mổ. Kỳ vọng tạo ra được 1.000 tấn fillet khác biệt so với sản phẩm fillet thông thường và bán với giá cao hơn 50% hiện nay.

 

Theo Thủy sản Việt Nam


【#8】Kỹ thuật nuôi lươn không bùn

Nuôi lươn không bùn khắc phục được những hạn chế của mô hình nuôi lươn truyền thống và khả năng thâm canh cao đáp ứng yêu cầu của nhà nông.

Mô hình nuôi lươn không bùn tiết kiệm nhiều chi phí, dễ quản lý, chăm sóc

Mô hình nuôi lươn không bùn tiết kiệm nhiều chi phí, dễ quản lý, chăm sóc

 

Xây dựng bể nuôi lươn không bùn

Bể hình chữ nhật, diện tích 6 – 20 m2, chiều cao khoảng 0,7 – 1 m. Được xây bằng xi măng. Mặt trong ốp gạch men/gạch tàu hoặc lót bạt (để tránh cho lươn bị trầy xướt) hay đơn giản hơn là dùng tre đóng thành khung nổi trên mặt đất và lót bạt. Bố trí 2 ống cấp và thoát nước nằm đối diện ở 2 góc của bể, riêng ống cấp có đường kính 42 mm được thiết kế nhiều lỗ nhỏ dạng vòi sen nhằm cung cấp ôxy cho bể nuôi trong quá trình thay nước.

Giá thể cho lươn trú ẩn (đồng thời là “sàn ăn”) gồm 3 khung tre (gỗ) đặt chồng lên nhau chiếm khoảng 1/3 diện tích bể, mỗi khung bao gồm các thanh tre (gỗ) được đóng song song cách nhau 10 cm. Khung trên cùng được đan thêm các dây nilon để có thể giữ được thức ăn khi cho lươn ăn.

Chọn giống và thả giống nuôi 

Sử dụng lươn giống thu gom từ tự nhiên kích cỡ tốt nhất là 40 – 60 con/kg. Chọn lươn giống đồng cỡ có da màu sáng, nhiều nhớt, hoạt động nhanh nhẹn, không xây xát, không đỏ rốn. Lươn có màu vàng sẫm, phát triển tốt nhất. Không chọn lươn câu bằng lưỡi câu, nhử thuốc, kích điện hay bị vuốt làm gãy sống lưng (chất lượng con giống yếu và hao hụt nhiều).

Mật độ thả nuôi thích hợp 200 – 250 con/m2. Trước khi thả vào bể, lươn phải được sát trùng bằng cách tắm với nước muối loãng nồng độ 3 – 5% trong 15 phút.

Thức ăn

Trong tuần đầu tiên nuôi, chỉ nên cho lươn ăn giun đất và chỉ ăn vào buổi tối. Sau này, khi lươn đã quen với điều kiện nuôi thả của gia đình, có thể ăn các loại thức ăn khác nhau như cá, ốc, cua… được nghiền nhỏ. Lưu ý, không cho lươn ăn thức ăn ôi, với thức ăn thừa nên vớt ra khỏi bồn tránh làm ô nhiễm nguồn nước.

Cho ăn: Trong 2 tháng đầu cho ăn 1 lần/ngày, sau 2 tháng cho ăn 2 lần/ngày, sáng 7 giờ, chiều 17 giờ. Lượng thức ăn cho lươn nhỏ: 3 – 4% trọng lượng lươn; lươn lớn: 5 – 8%. Chú ý tránh cho thiếu thức ăn vì khi đó lươn có thể ăn thịt lẫn nhau.

Chăm sóc

Là loài thủy sản có da không vảy nên lươn rất mẫn cảm với chất lượng nước của môi trường sống. Giữ nước sạch, hàm lượng ôxy hòa tan trên 2 mg/l. Thay nước bể lươn mỗi ngày (100%) sau khi cho từ ăn 2 – 3 giờ để giữ nước bể nuôi luôn sạch. Luôn duy trì mực nước trong ao khoảng từ 30 – 35 cm vừa ngập các giá thể. Hàng ngày, kiểm tra loại bỏ lươn chết và thường xuyên kiểm tra cống để tránh lươn thoát ra ngoài. Lươn thả nuôi sau 1 tháng rưỡi tiến hành phân loại nhằm tránh lươn ăn nhau. Trời nắng, nóng nâng mức nước đến 40 cm. Duy trì nhiệt độ nước bể nuôi trong khoảng 23 – 280C, nhiệt độ thấp (lạnh) thì tháo cạn nước trong bể, đắp lên đáy bể 1 lớp rơm hay cỏ, để giữ ấm cho lươn và thông khí cho lươn thở.

Phương pháp phòng bệnh khị nuôi lươn không bùn

Đây là biện pháp kỹ thuật quan trọng tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất do lươn được nuôi với mật độ cao, chất thải của lươn và thức ăn dư thừa làm môi trường nước ô nhiễm, nguy cơ phát sinh bệnh rất cao. Vì thế, định kỳ cần sát trùng bể để hạn chế mầm bệnh. Sổ giun cho lươn bằng các sản phẩm trị nội ký sinh (2 tuần/lần).

Nên bổ sung thêm men tiêu hóa, Vitamin C, khoáng để hỗ trợ tiêu hóa, bổ sung dinh dưỡng và tăng sức đề kháng cho lươn nuôi, đồng thời cho ăn thức ăn sạch, giữ vệ sinh bể nuôi và thường xuyên theo dõi hoạt động của lươn để có biện pháp điều trị thích hợp khi dịch bệnh xảy ra.

Thu hoạch

Nếu thả giống lớn, sau 5 tháng nuôi có thể lựa chọn lươn lớn để bán, sau 6 tháng lươn đạt kích cỡ 200 – 250 g/con thì tiến hành thu hoạch toàn bộ. Để nâng cao hiệu quả nên tính toán thời vụ nuôi thích hợp sao cho thu hoạch rơi vào thời điểm gần đến sau Tết Nguyên đán sẽ bán được giá cao.

Mô hình nuôi lươn không bùn tiết kiệm nhiều chi phí, dễ quản lý, chăm sóc, nhu cầu tiêu thụ loại lươn này rất lớn, tận dụng được diện tích đất nhỏ trong gia đình để nuôi.

 

Theo Thủy sản Việt Nam


【#9】Biển cạn mùa cá nam

Giữa mùa cá nam, biển Đà Nẵng vẫn đón những con tàu nhỏ đánh bắt ven bờ về bến khi bình minh vừa ló dạng. Mùa cá nam nhưng có những ngày không có cá…

Biển cạn mùa cá nam

1. Dân chài miền Trung ai cũng háo hức mùa cá nam. Giữa tháng 3, ngư dân bắt đầu làm lễ cầu ngư và ra biển. Mùa cá nam với cá chuồn, cá ngừ và hàng chục loài cá quen thuộc ven bờ, cá béo, lại nhiều.

Nhớ những năm trước, đó là mùa người buôn vàng đổ về các làng chài vừa cho ngư dân vay nóng mua xăng dầu, ngư cụ, vừa bán vàng cho những gia đình trúng cá hàng triệu đồng mỗi đêm đi biển. Cảnh tượng đó dường như bao năm không thay đổi, háo hức bán buôn, háo hức cân cá lúc thuyền về để những buổi chợ đông vui, nhộn nhịp.

4h sáng chợ cá trên bãi biển Mân Thái và Thọ Quang đã lố nhố phụ nữ đợi thuyền về. Đó là những con tàu công suất nhỏ, bạn chài ăn cơm chiều ở nhà xong mới đủng đỉnh ra lộng, chạy tàu chừng một hai hải lý thì dừng lại, chong đèn câu mực, thả luới.

Nhưng nay thì sáng sáng không còn cảnh ấy nữa. Những người may mắn nhất đã tranh mua được một thùng cá cơm trắng hoặc thúng cá bạc má vội vã kéo lên mặt đường phân loại hoặc nổ máy xe lao đến các chợ nhỏ ven thành phố.

Đi quanh một vòng, nhìn chợ cá thật thảm hại. Tất thảy cá, mực, ghẹ đều nhỏ xíu. Hiếm có tàu nào kiếm được trăm ký cá, đừng nói là vài tạ, một tấn như trước đây. Nhìn con cá hố thúng bé tí, chiều ngang khoảng 2cm, chiều dài 2 gang tay mà ngư dân vẫn phải bắt, thấy lòng không yên. Cả chợ sỉ mà chỉ có vài ba rổ mực con bé bằng ngón tay lấp lánh cặp mắt đen, khoảng chục kg mực con dài hơn gang tay. Nhìn quang cảnh chợ là biết vùng biển ven bờ này đã cạn thủy sản.

Ông Hai ra giúp con bán sỉ cá cho bạn hàng, nghe tôi thắc mắc về cá hố quá nhỏ, nói thủng thẳng: “Hồi trước loại cá này chỉ để nuôi heo, bán rẻ lắm nên chúng tôi không theo. Nhưng bây giờ lớn bé gì cũng phải bắt, nếu không thì tàu trống không! Tàu nhà tôi công suất nhỏ, không ra Hoàng Sa được, phải loanh quanh ven bờ, cá cũng ít dần”.

Cá lớn không có, cá nhỏ bị tận diệt, vét hết, xúc hết là những gì chúng tôi chứng kiến buổi sáng nay ở biển Đà Nẵng. Bà Thoa – một người buôn cá trên 30 năm ở đây càm ràm: “Mấy ổng không bắt được cá ngon, chúng tôi bán mấy thứ cá cơm này chẳng được mấy đồng lời”. Chợ họp nhanh chóng, khoảng hơn một tiếng đồng hồ là hết cá. Ngư dân uể oải thanh toán tiền bạc rồi về nhà, chờ đến giờ ra tàu đi biển khi chiều xuống. Hàng chục du khách đổ đến để mua cá tươi thất vọng về tay không vì cá nhỏ quá, dù tươi, chẳng bõ mang theo máy bay cả ngàn cây số.

Chợ cá Mân Thái chỉ là một trong mươi chợ cá tươi ven biển Đà Nẵng – nơi đón tàu nhỏ đi biển một đêm mang sản phẩm về bán. Cả chợ có đúng một con cá cu dài 2 gang tay, ông chủ thuyền hét giá 300 nghìn đồng một kg. Đó là cái giá dành cho đặc sản hiếm. Thật buồn!

2. Cách nay mươi năm, tôi đến một làng chài chuyên nghề lặn tôm hùm ở bán đảo Sơn Trà. Trai tráng làng này nối nghiệp cha ông làm cái nghề rất nguy hiểm, đòi hỏi sức khỏe để lặn suốt đêm dưới đáy biển. Ngày đó tôm hùm lớn đến vài kg, giá bán khá rẻ, vì con đường mới mở sát biển chỉ có vài quán nhậu bình dân.

Hôm nay tôi đến thăm gia đình cụ Thoại – một lão ngư làm nghề lặn bắt tôm hùm quanh Sơn Trà hơn 30 năm. Cụ Toại đã mất, 2 con trai và con rể cũng bỏ nghề lặn vì tôm hùm không còn sinh sống nổi trong môi trường tự nhiên.

Tôi hỏi, lặn bắt từng con làm sao có thể hết tôm hùm vốn rất nổi tiếng ở vùng đất này, tại sao nay lại hết, -một lão ngư đến chơi nhà cụ Toại giải thích: “Nhìn con đường thì biết. Hàng trăm quán nhậu, nhà hàng nhỏ bu kín, khách du lịch, rồi dân thành phố đổ về đây, người ta không bắt từng con nữa, bắt hàng loạt bằng mọi cách, nên nó mới hết, ngư dân cũng bỏ nghề luôn”.

Hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản ven bờ vốn rất phong phú, đa dạng. Nhưng do không thể kiểm soát chặt chẽ, ngư dân dùng lưới mắt nhỏ nhất, dùng tàu giã cào, dùng xung điện, dùng thuốc nổ TNT, lại đánh bắt bất chấp mùa cá đẻ, khiến nguồn lợi thủy sản ven bờ ở biển miền Trung bị hủy hoại nghiêm trọng.

Giữa những ngày tháng 4, tin tức về những chiếc tàu đánh cá hàng chục tỷ đồng ra khơi chỉ được vài chuyến đã bị rỉ sét, hỏng hóc vì “nước biển quá mặn” nghe như đùa! Ngư dân Việt Nam mình còn rất nghèo, nếu những chương trình hỗ trợ ngư dân đóng tàu công suất lớn không đạt hiệu quả thì nghề đi biển vẫn mãi ảm đạm.

Tại tỉnh Quảng Nam có 4.200 tàu, chỉ 855 tàu công suất từ 90CV trở lên đủ sức ra khơi, số còn lại phải bám ven bờ. Mỗi năm tỉnh phát hiện chừng ba bốn chục vụ vi phạm, xử phạt vài chục triệu đồng cũng không đủ để răn đe những người sử dụng các phương tiện đánh bắt hủy diệt. Đó là chưa nói đến một nguyên nhân rất quan trọng nữa là tình trạng ô nhiễm biển ven bờ từ nước thải các khu công nghiệp, khu đô thị và du lịch làm môi trường sống của thủy sản ngày càng xấu.

Đã nhiều năm, ngư dân đánh bắt ven bờ đảo Lý Sơn cũng không còn sung túc những mùa cá nam như trước. Những đội tàu giã cào các tỉnh khác lấn lướt càn quét, tôm cá nhỏ cỡ nào cũng tận diệt. Nếu như nghe ai đó đánh bắt ven bờ mà được cả tấn cá thì không khác nào trúng số biển cho. Bây giờ, mỗi đêm, một con tàu nhỏ nuôi 2, 3 gia đình mà trúng được 5, 7 chục ký cá là lấy làm mừng vì duy trì được cuộc sống, không thể mơ làm giàu hay tích góp đổi tàu công suất lớn để có thể thoát kiếp luẩn quẩn ven bờ.

Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ven bờ như thế nào là vấn đề nan giải, thậm chí ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng chục ngàn hộ gia đình sống ven biển. Với trình độ dân trí thấp, đời sống bấp bênh của cả triệu ngư dân nghèo, nếu ở Việt Nam mà nói đến chuyện cấm đánh bắt tôm cá trong mùa sinh đẻ như nhiều nước khác trên thế giới thì dường như đang hất đi nồi cơm của ngư dân nghèo lặn ngụp kiếm sống gần bờ.

Tôi nhớ đến chương trình của tổ chức phi chính phủ MRC hơn 10 năm trước hướng cho ngư dân thay đổi nhận thức về biển và nguồn sống từ sự cân bằng của hệ sinh thái biển để thay đổi nghề nghiệp. Trong vòng 6 năm, tổ chức này đã đưa chuyên gia đến hướng dẫn cho người dân làng chài Rạn Trào, tỉnh Khánh Hòa cách chung sống với biển thật bền vững, từ nuôi trồng san hô làm chỗ phát triển các loại thủy sản ven bờ, đến đầu tư nuôi tôm hùm, nghêu, hướng dẫn du khách tham quan, trồng và ngắm san hô, xây dựng các khu homestay giữa làng chài để đón khách du lịch.

Sự thành công của một chương trình còn quá nhỏ như thế chưa đủ là hướng ra cho việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản dưới biển và giải quyết đời sống ngư dân trên diện rộng. Đó cũng bởi không chỉ dân trí của ngư dân thấp, mà nhiều chương trình phát triển các địa phương ven biển vẫn chỉ hướng vào đóng tàu công suất lớn mà chưa đầu tư mạnh vào nuôi trồng hải sản và thay đổi nghề cho ngư dân.

Theo Bích Hồng

Doanh nhân Sài Gòn


【#10】Giá cá tra tăng nhưng không chắc

Thời điểm cuối tháng 4, đầu tháng 5/2017, giá cá tra vẫn ở ngưỡng kỳ vọng của nhiều nông dân nuôi cá. Nguy cơ nhiều diện tích nuôi cá sẽ tăng mạnh trở lại. Tuy nhiên, bài học giá cả tăng giảm của đối tượng nuôi này vẫn chưa cũ.

Giá cá tra đang có dấu hiệu giảm   Ảnh: Duy Khương

Giá cá tra đang có dấu hiệu giảm Ảnh: Duy Khương

Bấp bênh giá cá

Theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP, giá cá tra bán ra tại thị trường châu Á trong tháng 4 dao động ở mức 3 – 3,2 USD/kg, tăng hơn 30% so đầu năm 2016. Đây được xem là chu kỳ giá tăng kéo dài nhất và có thể tiếp tục đến hết năm 2017.

Từ sau Tết Nguyên đán đến nay, giá cá tra xuất tại ao liên tục đạt ngưỡng cao 24.000 – 26.000 đồng/kg, thậm chí có giai đoạn lên đến mốc 27.000 đồng/kg. Trung bình mỗi hộ nuôi thu về 500 – 1.200 đồng/kg tiền lãi sau khi trừ hết các chi phí. Những ngày đầu tháng 5, giá cá tra nguyên liệu loại 1 tại nhiều điểm thu mua ở khu vực ĐBSCL đạt mức 28.000 – 30.000 đồng/kg, loại 2 – 3 dao động 24.000 – 26.000 đồng/kg… cao hơn 4.000 – 5.000 đồng/kg so thời điểm đầu năm 2017. Đây là mức giá trong mơ của người nuôi. Tuy nhiên sau đó không lâu, giá cá lại có dấu hiệu giảm.

Khi giá ở mức cao, cùng với những diễn biến bất lợi về thời tiết, nhu cầu nuôi gia tăng đột biến đã đẩy giá cá giống tăng. Tính đến thời điểm đầu tháng 5/2017, giá cá tra giống (size 30 con/kg) ở mức 36.000 – 40.000 đồng/kg, tăng 10.000 – 13.000 đồng/kg so cuối năm 2016. Tuy nhiên, các hộ nuôi cá tra vẫn dè dặt thả nuôi; lúc giá cá tăng, giá con giống quá cao, còn giờ giá con giống giảm, giá cá cũng hạ nhiệt. Mua cá giống chủ yếu là các doanh nghiệp để cung cấp chuỗi sản xuất.

Rủi ro

Do giá thấp, người nuôi bỏ ao nhiều, nguồn cá nguyên liệu năm nay đã giảm 40 – 50% so năm 2016. Các nhà máy không có nguyên liệu để thực hiện hợp đồng với đối tác nước ngoài đã đẩy giá lên cao, nhiều nơi còn xảy ra tình trạng tranh mua tranh bán.

Khó khăn của người nuôi cá là đầu ra bấp bênh, thiếu thông tin; người nuôi chưa liên kết với doanh nghiệp, các tỉnh trọng đểm nuôi cá tra chưa có cơ sở cung cấp con giống… Đặc biệt, việc xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, thiếu bền vững và giá cao chỉ mang tính nhất thời. Theo VASEP, quý I/2017, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc đạt 69,7 triệu USD, tăng 56,8% so cùng kỳ. Từ tháng 2 năm nay, Trung Quốc trở thành nhà nhập khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam.

Theo khuyến cáo của nhiều chuyên gia, mặc dù giá cá nguyên liệu tăng nhưng người nuôi không nên ồ ạt thả nuôi vì rất dễ xảy ra tình trạng cá quá lứa nằm chờ thương lái. Ông Lê Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản An Giang cảnh báo nhờ có thị trường Trung Quốc nên nguồn cá tra nguyên liệu của Việt Nam được tiêu thụ với số lượng lớn. Tuy nhiên, cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, cách thức thu mua và giá cả cũng cũng không ổn định. Trước đây, họ sang Việt Nam thu mua ồ ạt với giá cao, được 2 – 3 đợt rồi bặt tăm. Đến gần cả năm sau, họ mới quay lại mua nhưng ép giá do nguồn cung thừa. Nhà nhập khẩu Trung Quốc thường không trực tiếp thu mua cá của dân như doanh nghiệp trong nước mà thông qua thương lái nên mọi thông tin liên quan đều mờ mịt.

Theo Thủy sản Việt Nam


Bạn đang xem chủ đề bề bề bao nhiêu tiền 1 kg trên website Cungcaphaisantuoisong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên sẽ hữu ích với bạn. Nếu bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!